ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Cây Me rừng, Chùm ruột núi, Phyllanthus emblica L, và tác dụng chữa bệnh của cây

Theo Đông Y quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát có công năng sinh tân, chỉ khát, lợi tiểu, hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hóa đờm... Ở Ấn Độ cũng sử dụng nó làm thuốc mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá me rừng có vị cay, tính bình, tác dụng lợi tiểu. Rễ cây có vị đắng chát, tính bình với tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cây cũng có tác dụng thu liễm. Hoa có công dụng làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Tên khoa học: Phyllanthus emblica L., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Tên khác: Tên tiếng Việt: Me rừng; Me mận; chùm ruột núi; mắc kham, Tên khác: Emblica officinalis Gaertn.;

Mô tả cây: Cây nhỡ cao 5-7m, có khi hơn. Lá nhỏ xếp sít nhau thành hai dây, nom như lá kép lông chim. Hoa nhỏ, màu vàng, mọc thành tán ở nách lá. Quả thịt, hình cầu to bằng quả táo ta, có khía rất mờ. Ra hoa tháng 4, tháng 5.

Bộ phận dùng: Quả, lá, vỏ cây và rễ - Fructus, Folium, Cortex et Radix Phyllanthi Emblicae.

Nơi sống và thu hái: Cây của phân vùng Ấn Ðộ, Malaixia, mọc hoang ở vùng rừng núi, thường gặp ở chỗ sáng. Thu hái quả vào mùa thu đông, dùng tươi hay phơi khô để dành. Thu hái lá vào hè thu, rễ và vỏ quanh năm, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học: Quả chứa acid phyllemblic (6,3%), lipid (6%) acid gallic (5%) và emblicol. Quả Me rừng là nguồn nguyên liệu tự nhiên của vitamin C, trong vỏ quả có tỉ lệ 70-72%. Còn có acid mucic. Quả khô chứa tanin và phức hợp keo mà thành phần chính là acid phyllemblic. Hạt chứa dầu cố định, phosphatid và tinh dầu. Vỏ cũng chứa tanin, leucodelphinidin. Lá cũng chứa tanin.

Tính vị, tác dụng: Quả có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá có vị cay, tính bình; có tác dụng lợi tiểu. Rễ có vị đắng chát, tính bình có tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cũng có tác dụng thu liễm. Hoa làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Quả được dùng chữa:

1. Cảm mạo phát sốt;

2. Ðau họng, đau răng, miệng khô phiền khát;

3. Ðái đường;

4. Thiếu vitamin C.

Rễ dùng chữa:

1. Huyết áp cao;

2. Ðau thượng vị, viêm ruột;

3. Lao hạch bạch huyết.

Lá dùng chữa:

1. Phù thũng;

2. Eczema, viêm da, mẩn ngứa.

Dùng 10-30g quả; 15-30g rễ, vỏ; 10-20g lá, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài lấy lượng lá thích hợp nấu sôi tắm rửa.

Ở Ấn Ðộ, người ta dùng quả khô để trị xuất huyết, ỉa chảy và lỵ, dùng phối hợp với sắt để trị thiếu máu, vàng da và chứng khó tiêu. Nước lên men từ quả Me rừng dùng trị vàng da, khó tiêu và ho. Bột nước quả Me rừng với dịch Chanh được dùng làm ngưng lỵ trực khuẩn cấp tính. Dịch ứa ra khi chích quả, dùng đắp ngoài, chữa viêm mắt. Hạt được dùng trị hen, viêm cuống phổi và thiểu năng mật. Ở Thái Lan, quả cũng được dùng làm thuốc long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu, trị ỉa chảy, chống bệnh scorbut.

Cách dùng theo dân gian:

Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin nêu vài phương thuốc chữa trị các bệnh chứng tiêu biểu. theo BS Hoàng Xuân Đại

* Chữa cảm mạo phát sốt: Quả me rừng 10 – 30g, sắc lấy nước uống, chia làm nhiều lần.

* Chữa trị huyết áp cao: Rễ cây me rừng 15 – 30g, sắc lấy nước uống trong ngày.

* Làm lợi tiểu: Lấy 10 – 20g vỏ thân cây me rừng sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Hoặc lấy 10 – 20g lá me rừng sắc lấy nước uống. Cũng có thể cho râu ngô, mã đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

* Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 – 20g, ướp với muối ăn và uống hằng ngày. Hoặc lấy 15 – 20 quả me rừng nấu sôi, sau ướp muối ăn hằng ngày.

* Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn.

* Chữa rắn cắn (chỉ sử dụng khi điều kiện không có y tế hoặc hỗ trợ khi đã được y tế cấp cứu): Lấy vỏ cây me rừng giã pha chút nước ép lấy nước cốt uống còn bã đắp nơi rắn cắn, lấy dây hoặc băng dính băng giữ cho khỏi bị rơi.

* Chữa phù thũng, Eczema, viêm da, mẩn ngứa: Quả me rừng 10 – 30g, rễ, vỏ me rừng 15 – 30g, lá me rừng 10 – 20g, sắc lấy nước thuốc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Kết hợp dùng ngoài cần lấy một lượng lá me rừng vừa đủ nấu sôi dùng nước tắm rửa hàng ngày.

Đơn thuốc có dùng cây:

Đơn thuốc:

1. Ðái đường: nấu sôi 15-20g quả Me rừng ướp muối và uống hàng ngày.

2. Rắn cắn: Vỏ cây giã thêm nước uống và lấy bã đắp.

3. Nước ăn chân: Giã quả lấy nước bôi.

Mua ở đâu:

Mắc kham hay còn gọi là me rừng, là một loại quả đặc sản hay mọc ở trên các sườn đồi, núi tại Cao Bằng và Lạng Sơn. Quả thường được thu hoạch từ tháng 6 cho đến cuối năm.

Thông tin khác:

Me rừng mang về rửa sạch, đập dập, bỏ hạt rồi dầm cùng muối ớt ăn rất ngon, tôi ăn mãi không chán, một mình có thể ăn hết nửa kg me rừng muối ớt chỉ sau một buổi sáng. Món này có vị chua chát nhưng không gây xót bụng, sau khi ăn xong lại thấy ngọt ngọt ở họng, rất ngon. Nghe nói quả này cung cấp nhiều vitamin C cho cơ thể, lại là một vị thuốc tốt cho sức khỏe nên tôi càng thích ăn

Quả me rừng có nên ngâm rượu?

Tôi muốn ngâm quả me rừng với rượu có được không? Xin bác sĩ cho biết công dụng của rượu me rừng?

Dam Ngoc Dung (ngocdung185@gmail.com )

Trả lời của BS. Trần Mạnh Tình

Me rừng tên khác là chùm ruột núi, mận rừng (quả tròn thuộc họ thầu dầu), cần phân biệt với quả me Thái (quả dài thuộc họ đậu)... Quả còn xanh chứa 30-35% tanin, rất nhiều vitamin C (1-1,8g/100g). Tại Ấn Độ người ta coi quả me rừng như một nguồn vitamin C. Quả tươi là vị thuốc mát lợi tiểu, nhuận tràng, dùng dưới hình thức làm mứt (thêm đường mật), khô dùng chữa lỵ, tiêu chảy.

Theo Đông y quả me rừng có vị chua, ngọt, đắng, tính mát có tác dụng thu liễm giáng áp. Thường dùng chữa cảm mạo phát sốt, ho, đau cổ họng, miệng khô khát. Mỗi ngày dùng 10-30 quả sắc uống... Hoặc quả me rừng ướp muối, rồi phơi khô làm ô mai ngậm chữa ho, viêm họng, nôn mửa; Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 - 20g, ướp với muối ăn hoặc nấu nước uống hằng ngày; Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn; Chữa phù thũng: Quả me rừng 10 - 30g. Cũng có thể cho râu ngô, mã đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Theo sách “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi, thì quả me rừng được dùng làm thuốc chữa một số bệnh dưới dạng sắc nước uống hoặc dưới dạng ô mai. Trong một số tài liệu mới đây thì có nói đến quả me rừng ngâm đường hoặc mật ong làm sirô để giải khát, thanh nhiệt... Tuy nhiên đều không thấy nói đến quả me rừng ngâm rượu, do vậy bạn hỏi về công dụng của rượu me rừng thì cũng chưa thấy tài liệu nào công bố. Hy vọng trong thời gian tới quả me rừng sẽ được nghiên cứu rõ hơn... Lời khuyên của tôi là bạn có thể ngâm với đường làm sirô hoặc làm ô mai hay sắc uống để trị một số bệnh như đã nói trên.

Sức khỏe đời sống


Bài thuốc nam chữa bệnh


Bệnh ung thư


Cây thuốc Nam


Bệnh thường gặp



Tin mới đăng

CÂY THUỐC VIỆT NAM

Bạn cần biết

Cây Me rừng, Chùm ruột núi, Phyllanthus emblica L, và tác dụng chữa bệnh của cây

Theo Đông Y quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát có công năng sinh tân, chỉ khát, lợi tiểu, hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hóa đờm... Ở Ấn Độ cũng sử dụng nó làm thuốc mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá me rừng có vị cay, tính bình, tác dụng lợi tiểu. Rễ cây có vị đắng chát, tính bình với tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cây cũng có tác dụng thu liễm. Hoa có công dụng làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Tên khoa học: Phyllanthus emblica L., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Tên khác: Tên tiếng Việt: Me rừng; Me mận; chùm ruột núi; mắc kham, Tên khác: Emblica officinalis Gaertn.;

Mô tả cây: Cây nhỡ cao 5-7m, có khi hơn. Lá nhỏ xếp sít nhau thành hai dây, nom như lá kép lông chim. Hoa nhỏ, màu vàng, mọc thành tán ở nách lá. Quả thịt, hình cầu to bằng quả táo ta, có khía rất mờ. Ra hoa tháng 4, tháng 5.

Bộ phận dùng: Quả, lá, vỏ cây và rễ - Fructus, Folium, Cortex et Radix Phyllanthi Emblicae.

Nơi sống và thu hái: Cây của phân vùng Ấn Ðộ, Malaixia, mọc hoang ở vùng rừng núi, thường gặp ở chỗ sáng. Thu hái quả vào mùa thu đông, dùng tươi hay phơi khô để dành. Thu hái lá vào hè thu, rễ và vỏ quanh năm, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học: Quả chứa acid phyllemblic (6,3%), lipid (6%) acid gallic (5%) và emblicol. Quả Me rừng là nguồn nguyên liệu tự nhiên của vitamin C, trong vỏ quả có tỉ lệ 70-72%. Còn có acid mucic. Quả khô chứa tanin và phức hợp keo mà thành phần chính là acid phyllemblic. Hạt chứa dầu cố định, phosphatid và tinh dầu. Vỏ cũng chứa tanin, leucodelphinidin. Lá cũng chứa tanin.

Tính vị, tác dụng: Quả có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá có vị cay, tính bình; có tác dụng lợi tiểu. Rễ có vị đắng chát, tính bình có tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cũng có tác dụng thu liễm. Hoa làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Quả được dùng chữa:

1. Cảm mạo phát sốt;

2. Ðau họng, đau răng, miệng khô phiền khát;

3. Ðái đường;

4. Thiếu vitamin C.

Rễ dùng chữa:

1. Huyết áp cao;

2. Ðau thượng vị, viêm ruột;

3. Lao hạch bạch huyết.

Lá dùng chữa:

1. Phù thũng;

2. Eczema, viêm da, mẩn ngứa.

Dùng 10-30g quả; 15-30g rễ, vỏ; 10-20g lá, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài lấy lượng lá thích hợp nấu sôi tắm rửa.

Ở Ấn Ðộ, người ta dùng quả khô để trị xuất huyết, ỉa chảy và lỵ, dùng phối hợp với sắt để trị thiếu máu, vàng da và chứng khó tiêu. Nước lên men từ quả Me rừng dùng trị vàng da, khó tiêu và ho. Bột nước quả Me rừng với dịch Chanh được dùng làm ngưng lỵ trực khuẩn cấp tính. Dịch ứa ra khi chích quả, dùng đắp ngoài, chữa viêm mắt. Hạt được dùng trị hen, viêm cuống phổi và thiểu năng mật. Ở Thái Lan, quả cũng được dùng làm thuốc long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu, trị ỉa chảy, chống bệnh scorbut.

Cách dùng theo dân gian:

Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin nêu vài phương thuốc chữa trị các bệnh chứng tiêu biểu. theo BS Hoàng Xuân Đại

* Chữa cảm mạo phát sốt: Quả me rừng 10 – 30g, sắc lấy nước uống, chia làm nhiều lần.

* Chữa trị huyết áp cao: Rễ cây me rừng 15 – 30g, sắc lấy nước uống trong ngày.

* Làm lợi tiểu: Lấy 10 – 20g vỏ thân cây me rừng sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Hoặc lấy 10 – 20g lá me rừng sắc lấy nước uống. Cũng có thể cho râu ngô, mã đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

* Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 – 20g, ướp với muối ăn và uống hằng ngày. Hoặc lấy 15 – 20 quả me rừng nấu sôi, sau ướp muối ăn hằng ngày.

* Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn.

* Chữa rắn cắn (chỉ sử dụng khi điều kiện không có y tế hoặc hỗ trợ khi đã được y tế cấp cứu): Lấy vỏ cây me rừng giã pha chút nước ép lấy nước cốt uống còn bã đắp nơi rắn cắn, lấy dây hoặc băng dính băng giữ cho khỏi bị rơi.

* Chữa phù thũng, Eczema, viêm da, mẩn ngứa: Quả me rừng 10 – 30g, rễ, vỏ me rừng 15 – 30g, lá me rừng 10 – 20g, sắc lấy nước thuốc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Kết hợp dùng ngoài cần lấy một lượng lá me rừng vừa đủ nấu sôi dùng nước tắm rửa hàng ngày.

Đơn thuốc có dùng cây:

Đơn thuốc:

1. Ðái đường: nấu sôi 15-20g quả Me rừng ướp muối và uống hàng ngày.

2. Rắn cắn: Vỏ cây giã thêm nước uống và lấy bã đắp.

3. Nước ăn chân: Giã quả lấy nước bôi.

Mua ở đâu:

Mắc kham hay còn gọi là me rừng, là một loại quả đặc sản hay mọc ở trên các sườn đồi, núi tại Cao Bằng và Lạng Sơn. Quả thường được thu hoạch từ tháng 6 cho đến cuối năm.

Thông tin khác:

Me rừng mang về rửa sạch, đập dập, bỏ hạt rồi dầm cùng muối ớt ăn rất ngon, tôi ăn mãi không chán, một mình có thể ăn hết nửa kg me rừng muối ớt chỉ sau một buổi sáng. Món này có vị chua chát nhưng không gây xót bụng, sau khi ăn xong lại thấy ngọt ngọt ở họng, rất ngon. Nghe nói quả này cung cấp nhiều vitamin C cho cơ thể, lại là một vị thuốc tốt cho sức khỏe nên tôi càng thích ăn

Quả me rừng có nên ngâm rượu?

Tôi muốn ngâm quả me rừng với rượu có được không? Xin bác sĩ cho biết công dụng của rượu me rừng?

Dam Ngoc Dung (ngocdung185@gmail.com )

Trả lời của BS. Trần Mạnh Tình

Me rừng tên khác là chùm ruột núi, mận rừng (quả tròn thuộc họ thầu dầu), cần phân biệt với quả me Thái (quả dài thuộc họ đậu)... Quả còn xanh chứa 30-35% tanin, rất nhiều vitamin C (1-1,8g/100g). Tại Ấn Độ người ta coi quả me rừng như một nguồn vitamin C. Quả tươi là vị thuốc mát lợi tiểu, nhuận tràng, dùng dưới hình thức làm mứt (thêm đường mật), khô dùng chữa lỵ, tiêu chảy.

Theo Đông y quả me rừng có vị chua, ngọt, đắng, tính mát có tác dụng thu liễm giáng áp. Thường dùng chữa cảm mạo phát sốt, ho, đau cổ họng, miệng khô khát. Mỗi ngày dùng 10-30 quả sắc uống... Hoặc quả me rừng ướp muối, rồi phơi khô làm ô mai ngậm chữa ho, viêm họng, nôn mửa; Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 - 20g, ướp với muối ăn hoặc nấu nước uống hằng ngày; Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn; Chữa phù thũng: Quả me rừng 10 - 30g. Cũng có thể cho râu ngô, mã đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Theo sách “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi, thì quả me rừng được dùng làm thuốc chữa một số bệnh dưới dạng sắc nước uống hoặc dưới dạng ô mai. Trong một số tài liệu mới đây thì có nói đến quả me rừng ngâm đường hoặc mật ong làm sirô để giải khát, thanh nhiệt... Tuy nhiên đều không thấy nói đến quả me rừng ngâm rượu, do vậy bạn hỏi về công dụng của rượu me rừng thì cũng chưa thấy tài liệu nào công bố. Hy vọng trong thời gian tới quả me rừng sẽ được nghiên cứu rõ hơn... Lời khuyên của tôi là bạn có thể ngâm với đường làm sirô hoặc làm ô mai hay sắc uống để trị một số bệnh như đã nói trên.