ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Cây Hoàng cầm râu, Bán chi liên, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Theo Đông Y Cây này có vị cay, đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng chỉ thống, lợi niệu hóa ứ, giáng áp. Từ xưa, các thầy thuốc thường dùng bán chi liên để trị khối u tân sinh, áp se phổi (lao phổi xơ), viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ trướng. Cây giã nát đắp bên ngoài trị được các loại mụn nhọt sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương. Scutellaria barbata là một loài thực vật có hoa trong họ Hoa môi. Loài này được D.Don miêu tả khoa học đầu tiên năm 1825.

Tên khoa học: Scutellaria barbata D. Don (S. rivularis Wall.) thuộc họ Hoa môi - Lamiaceae. Tên khác: Scutellaria rivularis Benth.; Scutellaria adenophylla Miq.; Scutellaria komarovii Levl.;

Tên khác: Tên tiếng Việt: Thuẫn râu; Hoàng cầm râu; Bán chi lien; Cỏ hàn tín lá hẹp

Mô tả cây: Mô tả: Cây thảo cao 0,2-0,5m, thân không lông. Lá mọc đối, phiến xoan thon, dài 1-2cm, mép có răng đều, gân phụ 3-4 cặp; cuống ngắn, 1mm. Cụm hoa dài 3-5cm, ở ngọn; lá bắc thon hẹp; đài hình chuông cao 2,5mm có 2 môi, môi trên mang một cái khiên (thuận) hình chóp có lông, rụng sớm, môi dưới tồn tại; tràng màu xanh có lông thưa, cao 7-9cm, chia 2 môi, môi trên 3 thuỳ, môi dưới tròn, miệng rộng, nhị 4, bao phấn có ít lông. Hoa tháng 4-10, quả tháng 6-11.

Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Scutellariae Barbatae, thường gọi là Bán chi liên

Nơi sống và thu hái: Ở Việt Nam hoàng cầm râu phân bố nhiều nơi: Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị. Cây thường mọc ở nơi sáng và ẩm, ruộng hoang, bãi hoang từ vùng thấp đến vùng cao. Ra hoa tháng 4-10, có quả tháng 6-11.

Thành phần hóa học: Trong cây có scutellarein, scutellarin, carthamidin, isocarthamidin.

Tính vị, tác dụng: Vị hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu tiêu sưng, giảm đau, chống khối u tan sinh.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Thường dùng trị:

1. Khối u tân sinh;

2. áp xe phổi (Lao phổi xơ);

3. Viêm ruột thừa;

4. Viêm gan, xơ gan cổ trướng.

Dùng ngoài trị các loại mụn nhọt sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương.

Liều dùng 20-40g, có thể tới 80g, dạng thuốc sắc để uống trong. Dùng ngoài với lượng cây tươi vừa đủ, giã ra đắp và nấu nước rửa.

Người ta còn dùng thay ích mẫu trị bệnh phụ khoa.

Đơn thuốc

- Chữa ung thư phổi, ung thư gan, ung thư trực tràng ở thời kỳ đầu (ở Trung Quốc): Hoàng cầm râu 40g và Lưỡi rắn trắng (Bạch hoa xà thiệt thảo) 80g, cho vào 600ml nước, sắc còn 200ml, chia uống trong ngày vào lúc đói. Cũng có thể nấu thành nước uống thay trà hàng ngày.

Thông tin khác:

Loài cây có tác dụng hỗ trợ trị ung thư

Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả cuốn sách Bài thuốc hay từ cây thuốc quý cho biết hoàng cầm râu còn gọi là bán chi liên, tên khoa học Scutellaria barbata D.Don, thuộc họ hoa môi Lamiaceae.

Đây là loài cây thảo, cao từ 0,2 đến 0,5 m. Thân không lông. Lá mọc đối, phiến xoan thon, dài 1-2 cm, mép có răng đều, gân bên 3-4 đôi, cuống ngắn khoảng một mm. Cụm hoa ở ngọn, dài 3-5 cm, lá bắc thon hẹp, đài hình chuông cao 2,5 mm có 2 môi. Môi trên mang một cái khiên (thuẫn) hình chóp có lông, rụng sớm. Môi dưới tồn tại tràng màu xanh có lông thưa, cao 7-9 cm, lại chia thành 2 môi trên và dưới. Bầu hoa nhẵn, vòi nhụy chẻ 2 thùy ở đỉnh. Quả hình thận, màu đen sẫm.

Ở Việt Nam hoàng cầm râu phân bố nhiều nơi: Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị. Cây thường mọc ở nơi sáng và ẩm, ruộng hoang, bãi hoang từ vùng thấp đến vùng cao. Ra hoa tháng 4-10, có quả tháng 6-11. Loài thực vật này cũng phổ biến ở Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Thái Lan.

Đông y sử dụng toàn bộ cây hoàng cầm râu để làm thuốc, gọi là bán chi liên. Người ta thu hái toàn cây vào mùa xuân, hè và hè thu lúc ra hoa. Thu hoạch xong, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô, bó lại để sử dụng dần. Khi dùng rửa sạch, cắt ngắn hoặc vụn.

Cây này có vị cay, đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng chỉ thống, lợi niệu hóa ứ, giáng áp. Từ xưa, các thầy thuốc thường dùng bán chi liên để trị khối u tân sinh, áp se phổi (lao phổi xơ), viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ trướng. Cây giã nát đắp bên ngoài trị được các loại mụn nhọt sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương.

Lưu ý: Khi sắc lấy nước uống, liều dùng trung bình 15-30 g, có thể tới 80 g. Nếu dùng bên ngoài lấy lượng cây tươi vừa đủ, giã ra đắp và nấu nước rửa. Người ta còn dùng vị thuốc này thay ích mẫu trị bệnh phụ khoa. Tuy nhiên bà bầu muốn dùng phải thận trọng.

Phân tích dược lý cho thấy toàn cây bán chi liên chứa 5,7,4’-trihydroxy-8-methoxy flavone, baicalein, wogonin (scutellarin), scutellarein, carthamidin, isocarthamidin, rhamnose, arabinose, galactose, mannose, xylose, glucose, alkaloid, flavonoid glycoside. Ngoài ra còn có các hợp chất phenol, steroid, tannin, axit amin, axit hữu cơ. Rễ chứa cholesterol, β-sitosterol, axit stearic.

​Các nghiên cứu đã chứng minh bán chi liên có tác dụng lợi niệu hạ áp, ức chế đối với Staphyloccocus aureus Rosenbach, trực khuẩn lỵ Shigella flexneri, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn gây mủ xanh, trực khuẩn biến hình, Staphylococcus albus, Neisseria catarrhal, trực khuẩn gây viêm ruột.

Sức khỏe đời sống


Bài thuốc nam chữa bệnh


Bệnh ung thư


Cây thuốc Nam


Bệnh thường gặp



Tin mới đăng

CÂY THUỐC VIỆT NAM

Bạn cần biết

Cây Hoàng cầm râu, Bán chi liên, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của cây

Theo Đông Y Cây này có vị cay, đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng chỉ thống, lợi niệu hóa ứ, giáng áp. Từ xưa, các thầy thuốc thường dùng bán chi liên để trị khối u tân sinh, áp se phổi (lao phổi xơ), viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ trướng. Cây giã nát đắp bên ngoài trị được các loại mụn nhọt sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương. Scutellaria barbata là một loài thực vật có hoa trong họ Hoa môi. Loài này được D.Don miêu tả khoa học đầu tiên năm 1825.

Tên khoa học: Scutellaria barbata D. Don (S. rivularis Wall.) thuộc họ Hoa môi - Lamiaceae. Tên khác: Scutellaria rivularis Benth.; Scutellaria adenophylla Miq.; Scutellaria komarovii Levl.;

Tên khác: Tên tiếng Việt: Thuẫn râu; Hoàng cầm râu; Bán chi lien; Cỏ hàn tín lá hẹp

Mô tả cây: Mô tả: Cây thảo cao 0,2-0,5m, thân không lông. Lá mọc đối, phiến xoan thon, dài 1-2cm, mép có răng đều, gân phụ 3-4 cặp; cuống ngắn, 1mm. Cụm hoa dài 3-5cm, ở ngọn; lá bắc thon hẹp; đài hình chuông cao 2,5mm có 2 môi, môi trên mang một cái khiên (thuận) hình chóp có lông, rụng sớm, môi dưới tồn tại; tràng màu xanh có lông thưa, cao 7-9cm, chia 2 môi, môi trên 3 thuỳ, môi dưới tròn, miệng rộng, nhị 4, bao phấn có ít lông. Hoa tháng 4-10, quả tháng 6-11.

Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Scutellariae Barbatae, thường gọi là Bán chi liên

Nơi sống và thu hái: Ở Việt Nam hoàng cầm râu phân bố nhiều nơi: Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị. Cây thường mọc ở nơi sáng và ẩm, ruộng hoang, bãi hoang từ vùng thấp đến vùng cao. Ra hoa tháng 4-10, có quả tháng 6-11.

Thành phần hóa học: Trong cây có scutellarein, scutellarin, carthamidin, isocarthamidin.

Tính vị, tác dụng: Vị hơi đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu tiêu sưng, giảm đau, chống khối u tan sinh.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Thường dùng trị:

1. Khối u tân sinh;

2. áp xe phổi (Lao phổi xơ);

3. Viêm ruột thừa;

4. Viêm gan, xơ gan cổ trướng.

Dùng ngoài trị các loại mụn nhọt sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương.

Liều dùng 20-40g, có thể tới 80g, dạng thuốc sắc để uống trong. Dùng ngoài với lượng cây tươi vừa đủ, giã ra đắp và nấu nước rửa.

Người ta còn dùng thay ích mẫu trị bệnh phụ khoa.

Đơn thuốc

- Chữa ung thư phổi, ung thư gan, ung thư trực tràng ở thời kỳ đầu (ở Trung Quốc): Hoàng cầm râu 40g và Lưỡi rắn trắng (Bạch hoa xà thiệt thảo) 80g, cho vào 600ml nước, sắc còn 200ml, chia uống trong ngày vào lúc đói. Cũng có thể nấu thành nước uống thay trà hàng ngày.

Thông tin khác:

Loài cây có tác dụng hỗ trợ trị ung thư

Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả cuốn sách Bài thuốc hay từ cây thuốc quý cho biết hoàng cầm râu còn gọi là bán chi liên, tên khoa học Scutellaria barbata D.Don, thuộc họ hoa môi Lamiaceae.

Đây là loài cây thảo, cao từ 0,2 đến 0,5 m. Thân không lông. Lá mọc đối, phiến xoan thon, dài 1-2 cm, mép có răng đều, gân bên 3-4 đôi, cuống ngắn khoảng một mm. Cụm hoa ở ngọn, dài 3-5 cm, lá bắc thon hẹp, đài hình chuông cao 2,5 mm có 2 môi. Môi trên mang một cái khiên (thuẫn) hình chóp có lông, rụng sớm. Môi dưới tồn tại tràng màu xanh có lông thưa, cao 7-9 cm, lại chia thành 2 môi trên và dưới. Bầu hoa nhẵn, vòi nhụy chẻ 2 thùy ở đỉnh. Quả hình thận, màu đen sẫm.

Ở Việt Nam hoàng cầm râu phân bố nhiều nơi: Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hòa Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị. Cây thường mọc ở nơi sáng và ẩm, ruộng hoang, bãi hoang từ vùng thấp đến vùng cao. Ra hoa tháng 4-10, có quả tháng 6-11. Loài thực vật này cũng phổ biến ở Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Thái Lan.

Đông y sử dụng toàn bộ cây hoàng cầm râu để làm thuốc, gọi là bán chi liên. Người ta thu hái toàn cây vào mùa xuân, hè và hè thu lúc ra hoa. Thu hoạch xong, loại bỏ tạp chất, rửa sạch, phơi khô, bó lại để sử dụng dần. Khi dùng rửa sạch, cắt ngắn hoặc vụn.

Cây này có vị cay, đắng, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng chỉ thống, lợi niệu hóa ứ, giáng áp. Từ xưa, các thầy thuốc thường dùng bán chi liên để trị khối u tân sinh, áp se phổi (lao phổi xơ), viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan cổ trướng. Cây giã nát đắp bên ngoài trị được các loại mụn nhọt sưng đau, viêm vú, viêm mủ da, sâu quảng, rắn độc cắn, sâu bọ cắn đốt, đòn ngã tổn thương.

Lưu ý: Khi sắc lấy nước uống, liều dùng trung bình 15-30 g, có thể tới 80 g. Nếu dùng bên ngoài lấy lượng cây tươi vừa đủ, giã ra đắp và nấu nước rửa. Người ta còn dùng vị thuốc này thay ích mẫu trị bệnh phụ khoa. Tuy nhiên bà bầu muốn dùng phải thận trọng.

Phân tích dược lý cho thấy toàn cây bán chi liên chứa 5,7,4’-trihydroxy-8-methoxy flavone, baicalein, wogonin (scutellarin), scutellarein, carthamidin, isocarthamidin, rhamnose, arabinose, galactose, mannose, xylose, glucose, alkaloid, flavonoid glycoside. Ngoài ra còn có các hợp chất phenol, steroid, tannin, axit amin, axit hữu cơ. Rễ chứa cholesterol, β-sitosterol, axit stearic.

​Các nghiên cứu đã chứng minh bán chi liên có tác dụng lợi niệu hạ áp, ức chế đối với Staphyloccocus aureus Rosenbach, trực khuẩn lỵ Shigella flexneri, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn gây mủ xanh, trực khuẩn biến hình, Staphylococcus albus, Neisseria catarrhal, trực khuẩn gây viêm ruột.