ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ, Polygonum multiflorum Thumb và tác dụng chữa bệnh của cây

Theo Y học dân tộc cổ truyền dùng hà thủ ô đỏ làm thuốc bổ gan thận, bổ máu, thuốc dùng cho những người có râu tóc bạc sớm, lưng gối đau mỏi, di tinh, đại tiện ra huyết, ung nhọt, tràng nhạc, thần kinh suy nhược, sốt rét lâu ngày. Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ có tên khoa học: Polygonum multiflorum Thumb, thuộc họ Rau răm - Polygonaceae.

Tên khoa học: Polygonum multiflorum Thumb

Tên khác: Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ

Mô tả cây: Cây thảo leo bằng thân quấn, sống nhiều năm, thân dài tới 5-7m, mọc xoắn vào nhau, màu xanh tía, không lông. Rễ phình thành củ, ngoài nâu, trong đỏ. Lá mọc so le, có cuống dài, phiến lá giống lá rau muống, có gốc hình tim hẹp, chóp nhọn dài, mép nguyên. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành chùm nhiều chuỳ ở nách lá hay ở ngọn. Quả bế hình ba cạnh, màu đen. Hoa tháng 8-10. Quả tháng 9-11

Bộ phận dùng: Rễ củ - Radix Polygoni Multiflori; thường dùng với tên Hà thủ ô. Rễ củ tròn hoặc hình thoi không nhất định, thường có những sống lồi dọc theo củ. Củ dài 6 - 16cm, chỗ phình có đường kính 4 - 8cm. Có thể gặp những củ dài đến 40cm, đường kính trên 10cm. Mặt ngoài màu nâu đỏ, mặt cắt màu hồng, có bột. Vị hơi đắng chát. Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy củ, rửa sạch, cắt bỏ rễ con. Nếu to thì bổ nhỏ rồi phơi hoặc sấy khô.

Nơi sống và thu hái: Cây của châu á, mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.

Thành phần hóa học: Củ Hà thủ ô chứa 1,7% antraglucosid, trong đó có emodin, chrysophanol, rhein, physcion; 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,4% các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin). 2,3,5,4 tetrahydroxytibene -2-O-b-D-glucoside. Lúc chưa chế, Hà thủ ô chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế, còn 3,82% tanin. 0,1127%, dẫn chất anthraquinon tự do và 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần.

Tính vị, tác dụng: Hà thủ ô có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình; có tác dụng bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân xương, nhuận tràng. Thử trên động vật thí nghiệm, người ta nhận thấy nước sắc Hà thủ ô có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu, có tác dụng tốt đối với các trường hợp suy nhược thần kinh và bệnh về thần kinh, làm tăng hoạt động của tim, giúp sinh huyết dịch, làm tăng sự co bóp của ruột, giúp ích cho sự tiêu hoá, lại có tác dụng chống viêm.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Thường được dùng chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, khô khát, táo bón, bệnh ngoài da. Uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng.

Cách dùng: Ngày dùng 4-20g dạng thuốc sắc, hay tán bột uống, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, có khi người ta dùng cả dây lá.

LƯU Ý:

Chú thích : Trong nước ta còn dùng một vị thuốc khác mang tên là hà thủ ô trắng. Đó là rễ củ của dây vú bò hoặc dây sữa bò hoặc mã liền an - Streptocaulon griffithii Hook. f. Thuộc họ Thiên lý - Asclepiadaceae.

Đây là một loại dây leo dài 3 - 5m, thân màu nâu đỏ, lá hình trứng mọc đối. Toàn cây có nhiều lông, có nhựa mủ trắng. Qủa cấu tạo bởi 2 đại mọc đâm ngang nom như sừng bò, dài 10cm, cũng có nhiều lông. Hạt dẹt có chùm lông.

Cây mọc hoang khắp các đồi núi ở nước ta. Rễ củ dài, vỏ ngoài màu nâu vàng, thịt trắng có nhiều bột, giữa có lõi.

Trong hà thủ ô trắng không có các dẫn chất anthranoid, trong y học cổ truyền thường hay dùng thay thế hoặc phối hợp với hà thủ ô đỏ.

Ở Trung quốc người ta cũng có dùng rễ một cây thuộc chi Cynanchum thuộc họ Thiên lý mang tên là bạch hà thủ ô.

Cây này cũng không có các dẫn chất anthranoid.

Cách dùng theo dân gian:

Có thể tái sinh bằng hạt nhưng thường được trồng dễ dàng bằng những đoạn thân hay cành bánh tẻ dài 30-40cm hoặc bằng củ có đường kính 3-5cm. Sau 2-3 năm thì thu hoạch. Lấy củ rửa sạch cắt bỏ rễ con, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ thành miếng phơi khô làm thuốc. Thu hoạch vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Lá có thể dùng làm rau ăn; dây lá cũng có thể dùng làm thuốc. Củ Hà thủ ô có thể dùng tươi, không chế hoặc chế với đậu đen, có nhiều cách làm:

- Đỗ đen giã nát cũng ngâm với Hà thủ ô đã thái miếng trong một đêm, sáng đem đồ lên rồi phơi nắng trong một đêm lại ngâm với Đỗ đen, lại đồ và phơi, làm 9 lần.

- Củ Hà thủ ô ngâm nước vo gạo 24 giờ, rửa lại rồi cho vào nồi, cứ 10g Hà thủ ô, cho 100g Đỗ đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn. Đảo luôn cho chín đều. Khi củ đã mềm lấy ra bỏ lõi. Nếu còn nước Đỗ đen thì tẩm, phơi cho hết. Đồ, phơi được 9 lần là tốt nhất.

Tham khảo thêm cách chế biến Hà Thủ Ô

 Cách chế biến hà thủ ô: Cho hà thủ ô đã thái vào chậu, trộn đều với nước đậu đen và rượu, đổ vào thùng, đặt vào nồi đun cách thủy, đến khi nước đậu trong thùng cạn hết, lấy ra phơi khô. Cứ 100kg hà thủ ô thì cần 10kg đậu đen và 25 lít rượu.

Cách chế nước đậu đen: cứ 10kg đỗ đen cho 15 lít nước đun 4 tiếng, lấy nước nhất, lại cho thên 10 lít nước khác đun 3 tiếng. Cả hai lần gộp lại.

Đơn thuốc có dùng cây:

Đơn thuốc:

1. Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón, dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.

2. Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con, dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.

3. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt, Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

4. Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm), dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hoà thêm mật vào uống.

5. Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.

Ghi chú: Uống Hà thủ ô thì kiêng ăn hành, tỏi, cải củ. Đối với người có áp huyết thấp và đường huyết thấp thì kiêng dùng.

Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc tư cây hà thủ ô như sau:

- Người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con: Dùng hà thủ ô 20 g, tầm gửi dâu, kỳ tử, ngưu tất đều 16 g, sắc uống.

- Chứng cholesterol trong máu cao: Hà thủ ô tươi 900 g rang giòn, nghiền bột. Mỗi lần dùng lấy 15 g, uống với nước sôi để ấm. Ngày 2 lần. Liên tục 30 ngày.

Mua ở đâu:

Hà thủ ô mọc hoang ở nơi râm mát, ven suối, khe núi đá, rừng cây bụi, trong thung lũng, chân núi cao từ 500 đến 1.600 m, phân bố nhiều ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Thông tin khác:

Đông y sử dụng rễ củ để làm thuốc với tên gọi là hà thủ ô. Thu hoạch vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Lấy củ rửa sạch cắt bỏ rễ con, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ thành miếng phơi khô làm thuốc. Có thể dùng tươi, không chế biến hoặc nấu với đỗ đen. Thân cây cũng được sử dụng. Lá có thể dùng làm rau ăn, dây lá cũng có thể làm thuốc. 

Hà thủ ô có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình, tác dụng bổ huyết giữ tinh, hòa khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân xương, nhuận tràng. Có sách ghi: Rễ củ có vị đắng, hơi chát, tính mát, thân dây có vị ngọt, chát, tính bình, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ thống, chỉ huyết, điều kinh bổ gan, ích thận, dưỡng huyết khư phong.

Người ta thường dùng hà thủ ô chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, khô rát, táo bón, bệnh ngoài da. Uống lâu giúp làm đen râu, tóc đối với người bạc tóc sớm, cho tóc đỡ khô và giảm rụng.

Theo y học cổ truyền, hà thủ ô có vị chát, ngọt, đắng (loại trắng thường đắng khó uống), có công dụng chữa đau lưng, nhức mỏi, bổ can thận, cảm sốt, khí hư bạch đới... Có truyền thuyết cho rằng, hà thủ ô chữa trị tóc bạc sớm, giúp đen tóc, đen râu, nhưng phải dùng trong thời gian dài (từ 1 năm trở lên).

Sức khỏe đời sống


Bài thuốc nam chữa bệnh


Bệnh ung thư


Cây thuốc Nam


Bệnh thường gặp



Tin mới đăng

CÂY THUỐC VIỆT NAM

Bạn cần biết

Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ, Polygonum multiflorum Thumb và tác dụng chữa bệnh của cây

Theo Y học dân tộc cổ truyền dùng hà thủ ô đỏ làm thuốc bổ gan thận, bổ máu, thuốc dùng cho những người có râu tóc bạc sớm, lưng gối đau mỏi, di tinh, đại tiện ra huyết, ung nhọt, tràng nhạc, thần kinh suy nhược, sốt rét lâu ngày. Cây Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ có tên khoa học: Polygonum multiflorum Thumb, thuộc họ Rau răm - Polygonaceae.

Tên khoa học: Polygonum multiflorum Thumb

Tên khác: Hà thủ ô, Hà thủ ô đỏ

Mô tả cây: Cây thảo leo bằng thân quấn, sống nhiều năm, thân dài tới 5-7m, mọc xoắn vào nhau, màu xanh tía, không lông. Rễ phình thành củ, ngoài nâu, trong đỏ. Lá mọc so le, có cuống dài, phiến lá giống lá rau muống, có gốc hình tim hẹp, chóp nhọn dài, mép nguyên. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành chùm nhiều chuỳ ở nách lá hay ở ngọn. Quả bế hình ba cạnh, màu đen. Hoa tháng 8-10. Quả tháng 9-11

Bộ phận dùng: Rễ củ - Radix Polygoni Multiflori; thường dùng với tên Hà thủ ô. Rễ củ tròn hoặc hình thoi không nhất định, thường có những sống lồi dọc theo củ. Củ dài 6 - 16cm, chỗ phình có đường kính 4 - 8cm. Có thể gặp những củ dài đến 40cm, đường kính trên 10cm. Mặt ngoài màu nâu đỏ, mặt cắt màu hồng, có bột. Vị hơi đắng chát. Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy củ, rửa sạch, cắt bỏ rễ con. Nếu to thì bổ nhỏ rồi phơi hoặc sấy khô.

Nơi sống và thu hái: Cây của châu á, mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình có số lượng ít hơn. Hiện nay, Hà thủ ô được trồng ở nhiều nơi vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.

Thành phần hóa học: Củ Hà thủ ô chứa 1,7% antraglucosid, trong đó có emodin, chrysophanol, rhein, physcion; 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,4% các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin (rhapontin, ponticin). 2,3,5,4 tetrahydroxytibene -2-O-b-D-glucoside. Lúc chưa chế, Hà thủ ô chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế, còn 3,82% tanin. 0,1127%, dẫn chất anthraquinon tự do và 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần.

Tính vị, tác dụng: Hà thủ ô có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình; có tác dụng bổ huyết giữ tinh, hoà khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân xương, nhuận tràng. Thử trên động vật thí nghiệm, người ta nhận thấy nước sắc Hà thủ ô có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu, có tác dụng tốt đối với các trường hợp suy nhược thần kinh và bệnh về thần kinh, làm tăng hoạt động của tim, giúp sinh huyết dịch, làm tăng sự co bóp của ruột, giúp ích cho sự tiêu hoá, lại có tác dụng chống viêm.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Thường được dùng chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, khô khát, táo bón, bệnh ngoài da. Uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng.

Cách dùng: Ngày dùng 4-20g dạng thuốc sắc, hay tán bột uống, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, có khi người ta dùng cả dây lá.

LƯU Ý:

Chú thích : Trong nước ta còn dùng một vị thuốc khác mang tên là hà thủ ô trắng. Đó là rễ củ của dây vú bò hoặc dây sữa bò hoặc mã liền an - Streptocaulon griffithii Hook. f. Thuộc họ Thiên lý - Asclepiadaceae.

Đây là một loại dây leo dài 3 - 5m, thân màu nâu đỏ, lá hình trứng mọc đối. Toàn cây có nhiều lông, có nhựa mủ trắng. Qủa cấu tạo bởi 2 đại mọc đâm ngang nom như sừng bò, dài 10cm, cũng có nhiều lông. Hạt dẹt có chùm lông.

Cây mọc hoang khắp các đồi núi ở nước ta. Rễ củ dài, vỏ ngoài màu nâu vàng, thịt trắng có nhiều bột, giữa có lõi.

Trong hà thủ ô trắng không có các dẫn chất anthranoid, trong y học cổ truyền thường hay dùng thay thế hoặc phối hợp với hà thủ ô đỏ.

Ở Trung quốc người ta cũng có dùng rễ một cây thuộc chi Cynanchum thuộc họ Thiên lý mang tên là bạch hà thủ ô.

Cây này cũng không có các dẫn chất anthranoid.

Cách dùng theo dân gian:

Có thể tái sinh bằng hạt nhưng thường được trồng dễ dàng bằng những đoạn thân hay cành bánh tẻ dài 30-40cm hoặc bằng củ có đường kính 3-5cm. Sau 2-3 năm thì thu hoạch. Lấy củ rửa sạch cắt bỏ rễ con, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ thành miếng phơi khô làm thuốc. Thu hoạch vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Lá có thể dùng làm rau ăn; dây lá cũng có thể dùng làm thuốc. Củ Hà thủ ô có thể dùng tươi, không chế hoặc chế với đậu đen, có nhiều cách làm:

- Đỗ đen giã nát cũng ngâm với Hà thủ ô đã thái miếng trong một đêm, sáng đem đồ lên rồi phơi nắng trong một đêm lại ngâm với Đỗ đen, lại đồ và phơi, làm 9 lần.

- Củ Hà thủ ô ngâm nước vo gạo 24 giờ, rửa lại rồi cho vào nồi, cứ 10g Hà thủ ô, cho 100g Đỗ đen và 2 lít nước. Nấu đến khi gần cạn. Đảo luôn cho chín đều. Khi củ đã mềm lấy ra bỏ lõi. Nếu còn nước Đỗ đen thì tẩm, phơi cho hết. Đồ, phơi được 9 lần là tốt nhất.

Tham khảo thêm cách chế biến Hà Thủ Ô

 Cách chế biến hà thủ ô: Cho hà thủ ô đã thái vào chậu, trộn đều với nước đậu đen và rượu, đổ vào thùng, đặt vào nồi đun cách thủy, đến khi nước đậu trong thùng cạn hết, lấy ra phơi khô. Cứ 100kg hà thủ ô thì cần 10kg đậu đen và 25 lít rượu.

Cách chế nước đậu đen: cứ 10kg đỗ đen cho 15 lít nước đun 4 tiếng, lấy nước nhất, lại cho thên 10 lít nước khác đun 3 tiếng. Cả hai lần gộp lại.

Đơn thuốc có dùng cây:

Đơn thuốc:

1. Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón, dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.

2. Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con, dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.

3. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt, Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.

4. Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm), dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hoà thêm mật vào uống.

5. Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.

Ghi chú: Uống Hà thủ ô thì kiêng ăn hành, tỏi, cải củ. Đối với người có áp huyết thấp và đường huyết thấp thì kiêng dùng.

Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc tư cây hà thủ ô như sau:

- Người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con: Dùng hà thủ ô 20 g, tầm gửi dâu, kỳ tử, ngưu tất đều 16 g, sắc uống.

- Chứng cholesterol trong máu cao: Hà thủ ô tươi 900 g rang giòn, nghiền bột. Mỗi lần dùng lấy 15 g, uống với nước sôi để ấm. Ngày 2 lần. Liên tục 30 ngày.

Mua ở đâu:

Hà thủ ô mọc hoang ở nơi râm mát, ven suối, khe núi đá, rừng cây bụi, trong thung lũng, chân núi cao từ 500 đến 1.600 m, phân bố nhiều ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Thông tin khác:

Đông y sử dụng rễ củ để làm thuốc với tên gọi là hà thủ ô. Thu hoạch vào mùa đông khi cây đã tàn lụi. Lấy củ rửa sạch cắt bỏ rễ con, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ thành miếng phơi khô làm thuốc. Có thể dùng tươi, không chế biến hoặc nấu với đỗ đen. Thân cây cũng được sử dụng. Lá có thể dùng làm rau ăn, dây lá cũng có thể làm thuốc. 

Hà thủ ô có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình, tác dụng bổ huyết giữ tinh, hòa khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân xương, nhuận tràng. Có sách ghi: Rễ củ có vị đắng, hơi chát, tính mát, thân dây có vị ngọt, chát, tính bình, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ thống, chỉ huyết, điều kinh bổ gan, ích thận, dưỡng huyết khư phong.

Người ta thường dùng hà thủ ô chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, khí hư, đại tiểu tiện ra máu, khô rát, táo bón, bệnh ngoài da. Uống lâu giúp làm đen râu, tóc đối với người bạc tóc sớm, cho tóc đỡ khô và giảm rụng.

Theo y học cổ truyền, hà thủ ô có vị chát, ngọt, đắng (loại trắng thường đắng khó uống), có công dụng chữa đau lưng, nhức mỏi, bổ can thận, cảm sốt, khí hư bạch đới... Có truyền thuyết cho rằng, hà thủ ô chữa trị tóc bạc sớm, giúp đen tóc, đen râu, nhưng phải dùng trong thời gian dài (từ 1 năm trở lên).