ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt


  • Qủa Na rừng tây bắc, Na rừng Lạng Sơn, có những công dụng gì mà đắt đỏ như vậy?


    Na rừng, Cây nắm cơm hay na rừng, na dây, dây xưn xe, re pa, po po (danh pháp: Kadsura coccinea), đôi khi cũng được gọi là ngũ vị tử nam là một loài thực vật có hoa trong họ Schisandraceae. Loài này được (Lem.) A.C.Sm. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1947. Na rừng là một thảo dược quý được đồng bào dân tộc sử dụng từ rất lâu, một trong ba vị thuốc quan trọng để bổ dương, điều trị yếu sinh lý.

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Tên thường dùng: Na rừng, Dây xưn xe, Nắm cơm, Ngũ vị nam , Tên khoa học:Kadsura coccinea (Lem) A. C. Smi (K.chinensis Hance) , Thời gian gần đây, na rừng được nhiều người săn lùng về làm thuốc, chữa bệnh.

    Do có giá trị cao về dược liệu nên na rừng được rất nhiều thương lái tìm mua và trả giá cao. Một quả na đỏ có trọng lượng lớn, chín tại cây có giá vào khoảng 500 nghìn đồng/kg, trung bình một quả nặng từ 3 – 4kg có giá vài triệu đồng/ quả. 

    TS Vũ Thoại, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu cây đàn hương và thực vật quý hiếm, cho biết, na rừng là loại cây có giá trị dược liệu cao, quý hiếm và cần được bảo tồn. “Đây là loại cây thân leo, lá hình bầu dục thường mọc trong rừng sâu và có độ phủ tán trên 40%, ở độ cao từ 150 – 1200m so với mặt nước biển. Quả na rừng khi chín rất thơm và sóc rất hay tìm để ăn. Đây cũng là một trong 3 vị thuốc trong bài thuốc “Tứn khửn”, bài thuốc chữa yếu sinh lý nổi tiếng của đồng bào dân tộc Sơn La. Ngoài ra, dễ thân cây na rừng cũng có giá trị rất lớn trong Đông Y".

    Tại Việt Nam chưa có tài liệu nào nghiên cứu về cây Na rừng. Tuy nhiên, ở Trung Quốc đã nghiên cứu và viết thành sách hướng dân cách dùng cây Na rừng. Tại huyện Yên Thế các lương y và các đồng bào dân tộc trên huyện Yên Thế hay dùng làm thuốc thang chữa phong thấp ăn uống kém phụ nữ hãm uống sau khi sinh đẻ chống hậu sản.

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Cây na rừng có rất nhiều tác dụng trong việc bồi bổ cơ thể và chữa bệnh. Rễ cây, thân cây và quả của cây na rừng đều có tác dụng chữa bệnh.
    Quả na rừng có thể trị phong thấp, hay làm thuốc an thần trị chứng mất ngủ, giúp điều hòa khí huyết, hồi sức. Ngoài ra, quả na rừng đem ngâm rượu có thể trở thành bài thuốc bổ dương rất hiệu quả, mà người Mông hay gọi là rượu Tứn khửn – “thần dược phòng the”.

    Rễ cây thu hái quanh năm, rửa sạch, thái phiến, phơi khô dùng dần. Rễ dùng trị viêm ruột mạn tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, viêm loét dạ dày và hành tá tràng; Phong thấp đau xương; Đau bụng trước khi hành kinh, hậu sản... Liều dùng, sắc 15-30g rễ khô lấy nước uống.

    Dân gian cũng thường dùng vỏ thân, vỏ rễ làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau. Ngày dùng 8-16 g sắc hoặc ngâm rượu uống.

    Khi hãm nước riêng vị Na rừng có vị hơi chát, dùng làm thuốc chữa các bệnh Phong tê thấp người suy nhược, đau dạ dày hành tá tràng, đại tràng ngoại thương xuất huyết, thân rễ ngâm rượi đánh gió xoa bóp vào chỗ đau nhức mỏi. Có thể dùng na rừng như một vị thuốc hành khí tiêu viêm chỉ thống, chữa đau dạ dầy tá tràng... giúp người ăn uống kém.

    Hiện nay do giá trị kinh tế cao nên loại cây này đang bị săn lùng ráo riết đến mức báo động.

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Thông tin thêm: 

    Cây na rừng được các bà con vùng dân tộc sử dụng cho phụ nữ sau sinh đẻ. Liều dùng cho thang thuốc 12- 15 gam khi bốc vào thuốc ngâm rượu 50- 100 gam còn khi uống một vị Na rừng hãm nước thay nước hằng ngày 20-30gam thường hãm cùng với các vi thuốc khác như Sâm cau , Bổ béo , Hồi sức thì càng tốt . khi uống có tác dụng ăn uống ngon hơn giảm đau sau khi sinh do dạ con co bóp và làm nhanh sạch máu hôi tanh. 

    Dân gian cũng thường dùng vỏ thân, vỏ rễ làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau. 

    Ngày dùng 8-16 g sắc hoặc ngâm rượu uống. 

     Khi hãm nước riêng vị Na rừng có vị đài hơi chát ,tính ôn không độc dùng làm thuốc chữa các bệnh Phong tê thấp người suy nhược, đau dạ dầy hành tá tràng, đại tràng ngoại thương xuất huyết, thân rễ ngâm rượi đánh gió xoa bóp vào chỗ đau nhức mỏi. 

    Có thể dùng na rừng như một vị thuốc hành khí tiêu viêm chỉ thống, chữa đau dạ dầy tá tràng .. giúp người ăn uống kém .

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Qủa Na rừng ngâm rượu

    Thông tin kết quả bước đầu Việt Nam nghiên cứu thành phần hóa học của Cây Na rừng tại huyện Tràng Định, Tỉnh Lạng Sơn

    Thành phần hóa học tinh dầu từ rễ cây Na rừng (Kadsura coccinea (Lem.) A.C. Sm.) ở Tràng Định, Lạng Sơn

    Chi Kadsura Juss. ở Việt Nam có 5 loài trong đó loài K. coccinea (Lem) A. C. Sm.) là loài phổ biến nhất, chúng phân bố trong hầu hết các vùng rừng núi ở Việt Nam. Từ xa xưa, người dân ở khắp nơi đã biết sử dụng cây này trong đời sống để ăn quả hay làm thuốc chữa bệnh. Trong dân gian, quả Na rừng rang làm thuốc an thần, gây ngủ. Rễ dùng trị viêm ruột mãn tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, viêm loét dạ dày, hành tá tràng; phong thấp đau xương, đòn ngã ứ đau; đau bụng trước hành kinh, sản hậu ứ đau, sưng vú. Vỏ thân và vỏ rễ ngâm rượu làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau....

    Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu thành phần hoá học của dịch chiết từ loài K. coccinea (Lem) A. C. Sm. Các kết quả đã chỉ ra rằng, trong các bộ phận của cây này, người ta đã chiết tách được khoảng 30 hợp chất thuộc các nhóm lignan và triterpenoid, nhiều hợp chất trong số này có hoạt tính sinh học cao. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học nhưng lại có rất ít công trình công bố về thành phần hoá học của tinh dầu tách chiết từ loài Na rừng, đặc biệt ở Việt Nam. Đây là công bố đầu tiên về  thành phần hoá học tinh dầu của loài Na rừng (K. coccinea (Lem) A. C. Sm.).
    Thành phần hoá học tinh dầu

    Tinh dầu từ rễ của cây Na rừng là chất lỏng, sánh, nhẹ hơn nước, có màu trắng, có mùi thơm đặc trưng. Hàm lượng tinh dầu trong rễ là 0,18% đối với rễ tươi và 0,26% đối với trọng lượng mẫu khô tuyệt đối.

    Bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC/MS) đã tiến hành định tính và định lượng các cấu tử trong tinh dầu Na rừng. Kết quả phân tích được trình bày tại bảng 1.

    Bảng 1. Thành phần hoá học tinh dầu tách chiết từ rễ Na rừng

    STT

    Thành phần

    Tỷ lệ (%)

    STT Thành phần

    Tỷ lệ (%)

    1 α- Thujene 0,15 19 Aromadendrene 0,92
    2 α- Pinene 2,30 20 δ- Cadinene 3,47
    3 Camphene 1,22 21 α- Humulene 5,04
    4 2- β- Pinene 4,38 22 Trans- β- Farnesene 0,10
    5 β- Myrcene 0,26 23 α- Amorphene 0,85
    6 β- Phellandrene 0,59 24 Germacrene d 0,50
    7 1,8- Cineole 0,86 25 β- Selinene 0,93
    8 Borneol L 1,21 26 Epi- Bicyclosesquiphellandrenene 0,27
    9 3- Cyclohexen-1-ol 0,34 27 α- Selinene 1,84
    10 α- Terpineol 0,17 28 β- Himachalene 5,95
    11 δ- Elemene 0,24 29 1,2,3- Trimethyl 2,23
    12 α- Cubebene 1,25 30 β- Bisabolene 0,27
    13 α- Copaene 3,47 31 γ- Cadinene 0,76
    14 β- Cubebene 0,22 32 Naphthalene 0,27
    15 β- Elemene 0,24 33 Caryophllene oxide 1,35
    16 β- Caryophyllene 52,17 34 Cadina-1,4-diene 0,42
    17 Widdrene 0,18 35 Bicyclo [4.4.0] Dec-1-en 1,26
    18 α- Bergamotene 1,11 36 T- Cadiol 0,44
    Tổng 97,23

    Kết quả phân tích cho thấy, thành phần hoá học của tinh dầu Na rừng khá phức tạp, sắc ký đồ của tinh dầu Na rừng gồm 43 píc, trong đó đã nhận biết được 36 hợp chất đạt 97,23%. Các số liệu ở bảng 1 cho thấy, thành phần hoá học của tinh dầu Na rừng (Tràng Định, Lạng Sơn) có các chất chính là: β- Caryophyllene (52,17%), các chất khác có hàm lượng thấp hơn lần lượt là β- Himachalene (5,95%), α- Humulene (5,04%), 2- β- Pinene (4,38%), α- Copaene (3,47%), δ- Cadinene (3,47%)…

    Kết luận

    - Hàm lượng tinh dầu trong rễ cây Na rừng thu tại Tràng Định, Lạng Sơn là 0,18% đối với rễ tươi và 0,26% đối với mẫu khô tuyệt đối.

    - Bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC/MS) đã định tính và định lượng được 36/43 hợp chất của tinh dầu trong rễ cây Na rừng,  đạt 97,23%.

    - Thành phần hoá học của tinh dầu trong rễ cây Na rừng (Lạng Sơn) có thành phần chính là β- Caryophyllene (52,17%), các chất khác có hàm lượng thấp hơn lần lượt là β- Himachalene (5,95%), α- Humulene (5,04%), 2- β- Pinene (4,38%), α- Copaene (3,47%), δ- Cadinene (3,47%)…

    Tài liệu tham khảo

    1.     Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2003: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập 2. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội.
    2.     Võ Văn Chi, 1999: Từ điển cây thuốc Việt Nam. NXB. Y học, Hà Nội.
    3.     Dược điển Việt Nam, 2002: Định lượng tinh dầu trong dược liệu, 3: 141. NXB. Y học, Hà Nội.

    Bùi Văn Thanh, Lưu Đàm Ngọc Anh, Trương Anh Thư, Ninh Khắc Bản
    Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
    Nguyễn Xuân Lộc
    Viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên
    (Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&CN Việt Nam)



    Sức khỏe đời sống


    Bài thuốc nam chữa bệnh


    Bệnh ung thư


    Cây thuốc Nam


    Bệnh thường gặp



    Tin mới đăng

    CÂY THUỐC VIỆT NAM

    Bạn cần biết


  • Qủa Na rừng tây bắc, Na rừng Lạng Sơn, có những công dụng gì mà đắt đỏ như vậy?


    Na rừng, Cây nắm cơm hay na rừng, na dây, dây xưn xe, re pa, po po (danh pháp: Kadsura coccinea), đôi khi cũng được gọi là ngũ vị tử nam là một loài thực vật có hoa trong họ Schisandraceae. Loài này được (Lem.) A.C.Sm. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1947. Na rừng là một thảo dược quý được đồng bào dân tộc sử dụng từ rất lâu, một trong ba vị thuốc quan trọng để bổ dương, điều trị yếu sinh lý.

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Tên thường dùng: Na rừng, Dây xưn xe, Nắm cơm, Ngũ vị nam , Tên khoa học:Kadsura coccinea (Lem) A. C. Smi (K.chinensis Hance) , Thời gian gần đây, na rừng được nhiều người săn lùng về làm thuốc, chữa bệnh.

    Do có giá trị cao về dược liệu nên na rừng được rất nhiều thương lái tìm mua và trả giá cao. Một quả na đỏ có trọng lượng lớn, chín tại cây có giá vào khoảng 500 nghìn đồng/kg, trung bình một quả nặng từ 3 – 4kg có giá vài triệu đồng/ quả. 

    TS Vũ Thoại, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu cây đàn hương và thực vật quý hiếm, cho biết, na rừng là loại cây có giá trị dược liệu cao, quý hiếm và cần được bảo tồn. “Đây là loại cây thân leo, lá hình bầu dục thường mọc trong rừng sâu và có độ phủ tán trên 40%, ở độ cao từ 150 – 1200m so với mặt nước biển. Quả na rừng khi chín rất thơm và sóc rất hay tìm để ăn. Đây cũng là một trong 3 vị thuốc trong bài thuốc “Tứn khửn”, bài thuốc chữa yếu sinh lý nổi tiếng của đồng bào dân tộc Sơn La. Ngoài ra, dễ thân cây na rừng cũng có giá trị rất lớn trong Đông Y".

    Tại Việt Nam chưa có tài liệu nào nghiên cứu về cây Na rừng. Tuy nhiên, ở Trung Quốc đã nghiên cứu và viết thành sách hướng dân cách dùng cây Na rừng. Tại huyện Yên Thế các lương y và các đồng bào dân tộc trên huyện Yên Thế hay dùng làm thuốc thang chữa phong thấp ăn uống kém phụ nữ hãm uống sau khi sinh đẻ chống hậu sản.

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Cây na rừng có rất nhiều tác dụng trong việc bồi bổ cơ thể và chữa bệnh. Rễ cây, thân cây và quả của cây na rừng đều có tác dụng chữa bệnh.
    Quả na rừng có thể trị phong thấp, hay làm thuốc an thần trị chứng mất ngủ, giúp điều hòa khí huyết, hồi sức. Ngoài ra, quả na rừng đem ngâm rượu có thể trở thành bài thuốc bổ dương rất hiệu quả, mà người Mông hay gọi là rượu Tứn khửn – “thần dược phòng the”.

    Rễ cây thu hái quanh năm, rửa sạch, thái phiến, phơi khô dùng dần. Rễ dùng trị viêm ruột mạn tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, viêm loét dạ dày và hành tá tràng; Phong thấp đau xương; Đau bụng trước khi hành kinh, hậu sản... Liều dùng, sắc 15-30g rễ khô lấy nước uống.

    Dân gian cũng thường dùng vỏ thân, vỏ rễ làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau. Ngày dùng 8-16 g sắc hoặc ngâm rượu uống.

    Khi hãm nước riêng vị Na rừng có vị hơi chát, dùng làm thuốc chữa các bệnh Phong tê thấp người suy nhược, đau dạ dày hành tá tràng, đại tràng ngoại thương xuất huyết, thân rễ ngâm rượi đánh gió xoa bóp vào chỗ đau nhức mỏi. Có thể dùng na rừng như một vị thuốc hành khí tiêu viêm chỉ thống, chữa đau dạ dầy tá tràng... giúp người ăn uống kém.

    Hiện nay do giá trị kinh tế cao nên loại cây này đang bị săn lùng ráo riết đến mức báo động.

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Thông tin thêm: 

    Cây na rừng được các bà con vùng dân tộc sử dụng cho phụ nữ sau sinh đẻ. Liều dùng cho thang thuốc 12- 15 gam khi bốc vào thuốc ngâm rượu 50- 100 gam còn khi uống một vị Na rừng hãm nước thay nước hằng ngày 20-30gam thường hãm cùng với các vi thuốc khác như Sâm cau , Bổ béo , Hồi sức thì càng tốt . khi uống có tác dụng ăn uống ngon hơn giảm đau sau khi sinh do dạ con co bóp và làm nhanh sạch máu hôi tanh. 

    Dân gian cũng thường dùng vỏ thân, vỏ rễ làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau. 

    Ngày dùng 8-16 g sắc hoặc ngâm rượu uống. 

     Khi hãm nước riêng vị Na rừng có vị đài hơi chát ,tính ôn không độc dùng làm thuốc chữa các bệnh Phong tê thấp người suy nhược, đau dạ dầy hành tá tràng, đại tràng ngoại thương xuất huyết, thân rễ ngâm rượi đánh gió xoa bóp vào chỗ đau nhức mỏi. 

    Có thể dùng na rừng như một vị thuốc hành khí tiêu viêm chỉ thống, chữa đau dạ dầy tá tràng .. giúp người ăn uống kém .

    Dây leo to có nhánh mọc trườn, mảnh, phủ lớp lông tuyến màu sậm, rồi về sau lại có lỗ bì hình dải. Lá bầu dục hay thuôn, dạng góc ở gốc, thon hẹp, tù, dài 6-10cm, rộng 3-4cm, nhạt màu ở dưới, rất nhẵn. Hoa đơn tính ở nách lá dài 15mm, rộng 10mm, màu tía. Quả giống như một quả Na to.  Hoa tháng 5-6, quả tháng 8-9.

    Qủa Na rừng ngâm rượu

    Thông tin kết quả bước đầu Việt Nam nghiên cứu thành phần hóa học của Cây Na rừng tại huyện Tràng Định, Tỉnh Lạng Sơn

    Thành phần hóa học tinh dầu từ rễ cây Na rừng (Kadsura coccinea (Lem.) A.C. Sm.) ở Tràng Định, Lạng Sơn

    Chi Kadsura Juss. ở Việt Nam có 5 loài trong đó loài K. coccinea (Lem) A. C. Sm.) là loài phổ biến nhất, chúng phân bố trong hầu hết các vùng rừng núi ở Việt Nam. Từ xa xưa, người dân ở khắp nơi đã biết sử dụng cây này trong đời sống để ăn quả hay làm thuốc chữa bệnh. Trong dân gian, quả Na rừng rang làm thuốc an thần, gây ngủ. Rễ dùng trị viêm ruột mãn tính, viêm dạ dày ruột cấp tính, viêm loét dạ dày, hành tá tràng; phong thấp đau xương, đòn ngã ứ đau; đau bụng trước hành kinh, sản hậu ứ đau, sưng vú. Vỏ thân và vỏ rễ ngâm rượu làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, giảm đau....

    Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu thành phần hoá học của dịch chiết từ loài K. coccinea (Lem) A. C. Sm. Các kết quả đã chỉ ra rằng, trong các bộ phận của cây này, người ta đã chiết tách được khoảng 30 hợp chất thuộc các nhóm lignan và triterpenoid, nhiều hợp chất trong số này có hoạt tính sinh học cao. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học nhưng lại có rất ít công trình công bố về thành phần hoá học của tinh dầu tách chiết từ loài Na rừng, đặc biệt ở Việt Nam. Đây là công bố đầu tiên về  thành phần hoá học tinh dầu của loài Na rừng (K. coccinea (Lem) A. C. Sm.).
    Thành phần hoá học tinh dầu

    Tinh dầu từ rễ của cây Na rừng là chất lỏng, sánh, nhẹ hơn nước, có màu trắng, có mùi thơm đặc trưng. Hàm lượng tinh dầu trong rễ là 0,18% đối với rễ tươi và 0,26% đối với trọng lượng mẫu khô tuyệt đối.

    Bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC/MS) đã tiến hành định tính và định lượng các cấu tử trong tinh dầu Na rừng. Kết quả phân tích được trình bày tại bảng 1.

    Bảng 1. Thành phần hoá học tinh dầu tách chiết từ rễ Na rừng

    STT

    Thành phần

    Tỷ lệ (%)

    STT Thành phần

    Tỷ lệ (%)

    1 α- Thujene 0,15 19 Aromadendrene 0,92
    2 α- Pinene 2,30 20 δ- Cadinene 3,47
    3 Camphene 1,22 21 α- Humulene 5,04
    4 2- β- Pinene 4,38 22 Trans- β- Farnesene 0,10
    5 β- Myrcene 0,26 23 α- Amorphene 0,85
    6 β- Phellandrene 0,59 24 Germacrene d 0,50
    7 1,8- Cineole 0,86 25 β- Selinene 0,93
    8 Borneol L 1,21 26 Epi- Bicyclosesquiphellandrenene 0,27
    9 3- Cyclohexen-1-ol 0,34 27 α- Selinene 1,84
    10 α- Terpineol 0,17 28 β- Himachalene 5,95
    11 δ- Elemene 0,24 29 1,2,3- Trimethyl 2,23
    12 α- Cubebene 1,25 30 β- Bisabolene 0,27
    13 α- Copaene 3,47 31 γ- Cadinene 0,76
    14 β- Cubebene 0,22 32 Naphthalene 0,27
    15 β- Elemene 0,24 33 Caryophllene oxide 1,35
    16 β- Caryophyllene 52,17 34 Cadina-1,4-diene 0,42
    17 Widdrene 0,18 35 Bicyclo [4.4.0] Dec-1-en 1,26
    18 α- Bergamotene 1,11 36 T- Cadiol 0,44
    Tổng 97,23

    Kết quả phân tích cho thấy, thành phần hoá học của tinh dầu Na rừng khá phức tạp, sắc ký đồ của tinh dầu Na rừng gồm 43 píc, trong đó đã nhận biết được 36 hợp chất đạt 97,23%. Các số liệu ở bảng 1 cho thấy, thành phần hoá học của tinh dầu Na rừng (Tràng Định, Lạng Sơn) có các chất chính là: β- Caryophyllene (52,17%), các chất khác có hàm lượng thấp hơn lần lượt là β- Himachalene (5,95%), α- Humulene (5,04%), 2- β- Pinene (4,38%), α- Copaene (3,47%), δ- Cadinene (3,47%)…

    Kết luận

    - Hàm lượng tinh dầu trong rễ cây Na rừng thu tại Tràng Định, Lạng Sơn là 0,18% đối với rễ tươi và 0,26% đối với mẫu khô tuyệt đối.

    - Bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC/MS) đã định tính và định lượng được 36/43 hợp chất của tinh dầu trong rễ cây Na rừng,  đạt 97,23%.

    - Thành phần hoá học của tinh dầu trong rễ cây Na rừng (Lạng Sơn) có thành phần chính là β- Caryophyllene (52,17%), các chất khác có hàm lượng thấp hơn lần lượt là β- Himachalene (5,95%), α- Humulene (5,04%), 2- β- Pinene (4,38%), α- Copaene (3,47%), δ- Cadinene (3,47%)…

    Tài liệu tham khảo

    1.     Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2003: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập 2. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội.
    2.     Võ Văn Chi, 1999: Từ điển cây thuốc Việt Nam. NXB. Y học, Hà Nội.
    3.     Dược điển Việt Nam, 2002: Định lượng tinh dầu trong dược liệu, 3: 141. NXB. Y học, Hà Nội.

    Bùi Văn Thanh, Lưu Đàm Ngọc Anh, Trương Anh Thư, Ninh Khắc Bản
    Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
    Nguyễn Xuân Lộc
    Viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên
    (Tuyển tập báo cáo Hội nghị Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009 - Viên ST&TNSV - Viện KH&CN Việt Nam)