ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt


  • Nấm Phục Linh, Phục Linh Thiên, Tên khoa học, Thành phần hoá học, tác dụng chữa bệnh của Nấm Phục Linh


    Phục linh có chứa các triterpenoid, steroids; các acid amin (lecithin, choline, adenine) và các saccharides... Theo Đông y, phục linh vị ngọt nhạt, tính bình.Vào kinh tâm, phế, tỳ và thận. Có tác dụng lợi thủy trừ thấp, kiện tỳ hòa vị, bổ tâm an thần. Dùng cho người tiểu ít, tiểu dắt buốt, phù nề, nôn, tiêu chảy, tim đập nhanh, hồi hộp, mất ngủ..

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Mô tả Nấm: Nấm mọc hoại sinh trên rễ cây thông. Quả thể hình khối to, có thể nặng tới 5kg nhỏ cũng có thể bằng nắm tay, mặt ngoài màu xám đen, nhăn nheo có khi hình bướu, cắt ngang sẽ thấy mặt lổn nhổn màu trắng hoặc hồng xám có khi có rễ thông ở giữa nấm.  

    Bộ phận dùng: Quả thể nấm - Poria, thường gọi là Phục linh.

    ời tThường ngưa phân biệt loại màu trắng gọi là Bạch linh, loại hồng xám gọi là Phục linh, loại có rễ thông đâm xuyên giữa gọi là Phục thần.

    Nơi sống và thu hái: Cây mọc trong rừng có thông, nằm sâu dưới một lớp đất mặt 20-30cm. Thường phát triển ở vùng núi hướng về phía mặt trời, khí hậu ấm áp, thoáng, độ cao trung bình, không bị gió bấc thổi, chất đất cát mịn tơi xốp. Ðã tìm thấy ở Hà Giang, Thanh Hoá, Lâm Ðồng, Gia Lai. Ðang nghiên cứu trồng ở Sapa, Tam Ðảo. Thu hoạch nấm vào tháng 10-11 sau tiết lập thu. Khi đào lên, người ta ngâm nước một ngày, rửa sạch, gọt bỏ vỏ, đồ lên, thái mỏng 2-3mm, phơi hay sấy khô. Khi dùng thì sắc với thuốc thang.

    Poria Cocos

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Thành phần hóa học: Trong quả thể Phục linh có acid pachymic, acid tumulosic, acid eburicoic, acid pinicolic, pachyman.

    Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính bình; có tác dụng lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðược dùng làm thuốc bổ, thuốc lợi tiểu, chữa thủy thũng, đầy trướng, ỉa chảy, tỳ hư ít ăn. Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, an thần phách, chữa các chứng sợ lửa, mất ngủ, di tinh. Liều dùng 9-15g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc viên. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

    Poria Cocos

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Đơn thuốc:

    1. Lợi tiểu tiêu phù:

    - Ngũ linh tán (Thương hàn luận): Bạch linh, Bạch truật, Trư linh đều 10g, Trạch tả 12g, Quế chi 4g, tất cả tán bột mịn trộn đều. Mỗi lần uống 10g, ngày 2 - 3 lần hoặc sắc uống. Trị phù tiểu ít.

    Tác giả Trần Kiến Nam dùng Bạch linh tán bột chế thành viên 30%. Trị 30 ca bệnh nhân phù (20 ca phù không đặc hiệu, 10 ca phù do bệnh tim thận). Cho uống người lớn mỗi lần 8 viên (mỗi viên có 3,5g thuốc sống), ngày 3 lần, trẻ em giảm nửa, 1 liệu trình 7 ngày, không dùng các thuốc lợi tiểu khác. Kết quả rõ rệt 23 ca, có kết quả 7 ca. Có nhận xét là phù do bệnh thực thể rút phù nhanh hơn là phù không đặc hiệu (Báo Thượng hải Trung y dược 1986,8:25).

    - Bạch phục linh thang: Bạch phục linh, Trạch tả, Úc lý nhân đều 10g (Phục linh có thể 12g), sắc uống.

    - Phục linh 250g, cám gạo mịn (hoặc bột lúa mạch) 60g, tán bột mịn, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần. Trị phù do cơ thể suy nhược, phụ nữ có thai.

    2. Trị tiêu chảy:

    - Hương sa lục quân (Hòa tễ cục phương): Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh đều 10g, Chích thảo 3g, Trần bì, Bán hạ, Gừng chế đều 5g, Mộc hương, Sa nhân đều 4g. Tất cả tán bột mịn trộn với nước Gừng táo làm thành viên bằng hạt đỗ xanh. Mỗi lần uống 4 - 8g, tùy tuổi. Trị tiêu chảy kéo dài do tỳ hư kết quả tốt.

    - Sâm linh Bạch truật tán (Hòa tễ cục phương): Đảng sâm ( hoặc Nhân sâm), Bạch linh, Bạch truật, Hoài sơn, sao Đậu ván trắng, Hạt sen, Ý dĩ nhân đều 80g, Cát cánh, Sa nhân, Trần bì, Chích thảo đều 40g, trộn với nước sắc gừng táo vừa đủ làm thành thuốc bột hoặc viên với hồ bột gạo tẻ, mỗi lần uống 4 - 8g, ngày 3 lần. Trị tiêu chảy kéo dài.

    - Lâm nguyên Chấn dùng bột Bạch linh trị tiêu chảy Thu đông trẻ em 93 ca, mỗi lần uống 0,5 - 1g, ngày 3 lần. Kết quả khỏi 79 ca, tốt 8 ca, không kết quả 6 ca. So với lô chứng dùng uống pepsin và vitamin B1, kết quả tương đương nhưng thời gian rút ngắn (Báo Trung y Bắc kinh, 1985,5:31).

    3. Trị ung thư: Khoa ung thư Bệnh viện số 1 thị Phúc châu dùng polysacharid Bạch linh trị 70 ca ung thư các loại, một số có kết quả xạ trị, hóa trị và phẫu trị, nhận xét thuốc có tác dụng tăng sức, nâng chức năng miễn dịch, cải thiện chức năng gan thận, tăng hiệu quả của xạ trị đối với ung thư mũi họng (Tạp chí Trung tây y kết hợp 1985,2:115).

    4. Trị mất ngủ:

    - Viên an thần: Phục linh, Phục thần, Đảng sâm, Xương bồ, Viễn chí, Long nhãn nhục, lượng bằng nhau, tán bột mịn Chu sa làm áo luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 10 - 20g vào chiều và tối trước lúc ngủ.

    5. Chữa tim yếu hay hồi hộp, sợ hãi, ngủ không yên, hay quên, mất trí, tinh thần suy nhược, ăn uống kém sút, rũ mỏi thích nằm: Phục thần, Ðẳng sâm, Liên nhục, Long nhãn, Ðại táo, đều 16g; Táo nhân sao, Viễn chí, Xương bồ đều 8g, sắc uống, hay tán bột, viên với mật ong, uống mỗi ngày 10-12g.

    6. Chữa phù thũng mắt, mặt, chân tay đều phù, bụng trướng: Vỏ Phục linh, vỏ Quýt cũ (Trần bì), vỏ quả Cau, vỏ rễ Dâu, vỏ Gừng sống, mỗi vị 15-20g hoặc thêm vỏ cây Dướng, Mộc thông bằng các vị trên cùng sắc uống (Nam dược thần hiệu).

    Liều thường dùng: Liều: 6 - 20g.

    Chú ý: Vỏ ngoài của Phục linh gọi là Phục linh bì có tác dụng lợi tiểu.

    - Xích linh hoặc Xích phục linh cũng là một loại với bạch linh nhưng thịt đỏ, do lâu năm mà hóa thành, dùng trị các chứng ngoại cảm. Cách bào chế cũng  như Bạch linh.

    - Phục thần có tác dụng an thần, chữa sợ hãi, hồi hộp, mất ngủ, sầu uất, đần độn, mất trí, tinh thần bạc nhược.

    - Phục linh bì có tác dụng ưu tiên về lợi tiểu, tiêu thũng, chống phù.

    Phục Linh Thiên

    Nấm Phục Linh Thiên

    Vì sao lại gọi là Nấm Phục Linh Thiên

    Thông qua những ảnh chụp của củ nấm, ông Huỳnh Nguyễn Lộc - Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP.HCM khẳng định, đó chính là nấm “phục linh thần”.

    Nấm “phục linh” là tên gọi khoa học và từng xuất hiện trong sách cổ Trung Quốc (Bản kinh, Y học khởi nguyên, Lôi công bào chế dược tính giải, Bản thảo cương mục,...). Loại nấm mọc dưới rễ cây thông và một số loại cây thuộc họ thông được gọi là “phục linh thần”.

    Còn tên gọi “phục linh thiên” là do nó mọc trên nhánh cây, được thiền sư Trần Ngọc Lâm tự đặt khi phát hiện ra trên dãy Hoàng Liên Sơn. Ông Lâm biết tới loại nấm này sau một thời gian trị bệnh ở Tây Tạng (Trung Quốc) và được một vị thiền sư ở đây truyền lại các bài thuốc bí truyền.

    “Mấy năm trước không thấy ai nhắc tới loại nấm này. Cao lắm chỉ có vài người tìm được và cũng chỉ vài củ, nhưng họ để lại dùng chứ không bán. Nấm phục linh thiên mới nổi lên trong khoảng 2 - 3 năm nay và giá cũng không rẻ”,

    Nấm Phục Linh Thiên

    Nấm Phục Linh Thiên

    Theo ông Huỳnh Nguyễn Lộc, Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP.HCM, phục linh là loại nấm ký sinh hoặc hoại sinh trên rễ cây thông, có tên khoa học là Poria cocos Wolf, họ nấm lỗ (Polyporaceae). Thể quả của nấm có hình dạng không đều, đường kính có thể đạt 10 - 30cm.

    Phục linh đã được nuôi cấy thành công và có thể thu hoạch sau 2 năm, loại tốt hơn  phải sau 3 - 4 năm.

    Thành phần của phục linh gồm: Phục linh bì (vỏ ngoài của củ phục linh); xích phục linh (lớp thứ 2 sau phần vỏ) hơi hồng hoặc nâu nhạt; bạch phục linh (phần ruột) có màu trắng. Còn “phục thần” hay “phục linh thần” là chỉ củ phục linh ôm rễ thông bên trong.

    Mỗi bộ phận của phục linh đều có tác dụng riêng biệt: Phục linh bì có tác dụng ưu tiên về lợi tiểu, tiêu thủng, chống phù; xích phục linh có tác dụng chính là hành thuỷ, lợi thấp nhiệt; bạch phục linh hoặc bạch linh có tác dụng lợi thủy trừ thấp (lợi tiểu), kiện tỳ (giúp tiêu hoá tốt) và an thần. Riêng phục thần có tác dụng an thần rất tốt.

    Phục linh chứa polysacchrid gọi là β-pachyman. Một vài nghiên cứu gần đây cho thấy, polysacchrid là chất có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đáng tin cậy.

    Kiêng kỵ: người bị thoát vị, sa dạ dày trực tràng (tỳ hư hạ hãm); người hư hàn di hoạt tinh,  tiểu đêm nhiều hạn chế dùng. Không ăn giấm trong thời gian dùng phục linh.



    Sức khỏe đời sống


    Bài thuốc nam chữa bệnh


    Bệnh ung thư


    Cây thuốc Nam


    Bệnh thường gặp



    Tin mới đăng

    CÂY THUỐC VIỆT NAM

    Bạn cần biết


  • Nấm Phục Linh, Phục Linh Thiên, Tên khoa học, Thành phần hoá học, tác dụng chữa bệnh của Nấm Phục Linh


    Phục linh có chứa các triterpenoid, steroids; các acid amin (lecithin, choline, adenine) và các saccharides... Theo Đông y, phục linh vị ngọt nhạt, tính bình.Vào kinh tâm, phế, tỳ và thận. Có tác dụng lợi thủy trừ thấp, kiện tỳ hòa vị, bổ tâm an thần. Dùng cho người tiểu ít, tiểu dắt buốt, phù nề, nôn, tiêu chảy, tim đập nhanh, hồi hộp, mất ngủ..

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Mô tả Nấm: Nấm mọc hoại sinh trên rễ cây thông. Quả thể hình khối to, có thể nặng tới 5kg nhỏ cũng có thể bằng nắm tay, mặt ngoài màu xám đen, nhăn nheo có khi hình bướu, cắt ngang sẽ thấy mặt lổn nhổn màu trắng hoặc hồng xám có khi có rễ thông ở giữa nấm.  

    Bộ phận dùng: Quả thể nấm - Poria, thường gọi là Phục linh.

    ời tThường ngưa phân biệt loại màu trắng gọi là Bạch linh, loại hồng xám gọi là Phục linh, loại có rễ thông đâm xuyên giữa gọi là Phục thần.

    Nơi sống và thu hái: Cây mọc trong rừng có thông, nằm sâu dưới một lớp đất mặt 20-30cm. Thường phát triển ở vùng núi hướng về phía mặt trời, khí hậu ấm áp, thoáng, độ cao trung bình, không bị gió bấc thổi, chất đất cát mịn tơi xốp. Ðã tìm thấy ở Hà Giang, Thanh Hoá, Lâm Ðồng, Gia Lai. Ðang nghiên cứu trồng ở Sapa, Tam Ðảo. Thu hoạch nấm vào tháng 10-11 sau tiết lập thu. Khi đào lên, người ta ngâm nước một ngày, rửa sạch, gọt bỏ vỏ, đồ lên, thái mỏng 2-3mm, phơi hay sấy khô. Khi dùng thì sắc với thuốc thang.

    Poria Cocos

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Thành phần hóa học: Trong quả thể Phục linh có acid pachymic, acid tumulosic, acid eburicoic, acid pinicolic, pachyman.

    Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính bình; có tác dụng lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðược dùng làm thuốc bổ, thuốc lợi tiểu, chữa thủy thũng, đầy trướng, ỉa chảy, tỳ hư ít ăn. Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, an thần phách, chữa các chứng sợ lửa, mất ngủ, di tinh. Liều dùng 9-15g, dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc viên. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

    Poria Cocos

    Phục linh (tên khoa học: Wolfiporia extensa (Peck) Ginns, đồng nghĩa: Poria cocos F.A.Wolf) là một loài nấm trong họ Polyporaceae. Các vị thuốc Đông y lấy từ loài này là phục linh bì, xích phục linh, bạch phục linh, và phục thần.

    Đơn thuốc:

    1. Lợi tiểu tiêu phù:

    - Ngũ linh tán (Thương hàn luận): Bạch linh, Bạch truật, Trư linh đều 10g, Trạch tả 12g, Quế chi 4g, tất cả tán bột mịn trộn đều. Mỗi lần uống 10g, ngày 2 - 3 lần hoặc sắc uống. Trị phù tiểu ít.

    Tác giả Trần Kiến Nam dùng Bạch linh tán bột chế thành viên 30%. Trị 30 ca bệnh nhân phù (20 ca phù không đặc hiệu, 10 ca phù do bệnh tim thận). Cho uống người lớn mỗi lần 8 viên (mỗi viên có 3,5g thuốc sống), ngày 3 lần, trẻ em giảm nửa, 1 liệu trình 7 ngày, không dùng các thuốc lợi tiểu khác. Kết quả rõ rệt 23 ca, có kết quả 7 ca. Có nhận xét là phù do bệnh thực thể rút phù nhanh hơn là phù không đặc hiệu (Báo Thượng hải Trung y dược 1986,8:25).

    - Bạch phục linh thang: Bạch phục linh, Trạch tả, Úc lý nhân đều 10g (Phục linh có thể 12g), sắc uống.

    - Phục linh 250g, cám gạo mịn (hoặc bột lúa mạch) 60g, tán bột mịn, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần. Trị phù do cơ thể suy nhược, phụ nữ có thai.

    2. Trị tiêu chảy:

    - Hương sa lục quân (Hòa tễ cục phương): Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh đều 10g, Chích thảo 3g, Trần bì, Bán hạ, Gừng chế đều 5g, Mộc hương, Sa nhân đều 4g. Tất cả tán bột mịn trộn với nước Gừng táo làm thành viên bằng hạt đỗ xanh. Mỗi lần uống 4 - 8g, tùy tuổi. Trị tiêu chảy kéo dài do tỳ hư kết quả tốt.

    - Sâm linh Bạch truật tán (Hòa tễ cục phương): Đảng sâm ( hoặc Nhân sâm), Bạch linh, Bạch truật, Hoài sơn, sao Đậu ván trắng, Hạt sen, Ý dĩ nhân đều 80g, Cát cánh, Sa nhân, Trần bì, Chích thảo đều 40g, trộn với nước sắc gừng táo vừa đủ làm thành thuốc bột hoặc viên với hồ bột gạo tẻ, mỗi lần uống 4 - 8g, ngày 3 lần. Trị tiêu chảy kéo dài.

    - Lâm nguyên Chấn dùng bột Bạch linh trị tiêu chảy Thu đông trẻ em 93 ca, mỗi lần uống 0,5 - 1g, ngày 3 lần. Kết quả khỏi 79 ca, tốt 8 ca, không kết quả 6 ca. So với lô chứng dùng uống pepsin và vitamin B1, kết quả tương đương nhưng thời gian rút ngắn (Báo Trung y Bắc kinh, 1985,5:31).

    3. Trị ung thư: Khoa ung thư Bệnh viện số 1 thị Phúc châu dùng polysacharid Bạch linh trị 70 ca ung thư các loại, một số có kết quả xạ trị, hóa trị và phẫu trị, nhận xét thuốc có tác dụng tăng sức, nâng chức năng miễn dịch, cải thiện chức năng gan thận, tăng hiệu quả của xạ trị đối với ung thư mũi họng (Tạp chí Trung tây y kết hợp 1985,2:115).

    4. Trị mất ngủ:

    - Viên an thần: Phục linh, Phục thần, Đảng sâm, Xương bồ, Viễn chí, Long nhãn nhục, lượng bằng nhau, tán bột mịn Chu sa làm áo luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 10 - 20g vào chiều và tối trước lúc ngủ.

    5. Chữa tim yếu hay hồi hộp, sợ hãi, ngủ không yên, hay quên, mất trí, tinh thần suy nhược, ăn uống kém sút, rũ mỏi thích nằm: Phục thần, Ðẳng sâm, Liên nhục, Long nhãn, Ðại táo, đều 16g; Táo nhân sao, Viễn chí, Xương bồ đều 8g, sắc uống, hay tán bột, viên với mật ong, uống mỗi ngày 10-12g.

    6. Chữa phù thũng mắt, mặt, chân tay đều phù, bụng trướng: Vỏ Phục linh, vỏ Quýt cũ (Trần bì), vỏ quả Cau, vỏ rễ Dâu, vỏ Gừng sống, mỗi vị 15-20g hoặc thêm vỏ cây Dướng, Mộc thông bằng các vị trên cùng sắc uống (Nam dược thần hiệu).

    Liều thường dùng: Liều: 6 - 20g.

    Chú ý: Vỏ ngoài của Phục linh gọi là Phục linh bì có tác dụng lợi tiểu.

    - Xích linh hoặc Xích phục linh cũng là một loại với bạch linh nhưng thịt đỏ, do lâu năm mà hóa thành, dùng trị các chứng ngoại cảm. Cách bào chế cũng  như Bạch linh.

    - Phục thần có tác dụng an thần, chữa sợ hãi, hồi hộp, mất ngủ, sầu uất, đần độn, mất trí, tinh thần bạc nhược.

    - Phục linh bì có tác dụng ưu tiên về lợi tiểu, tiêu thũng, chống phù.

    Phục Linh Thiên

    Nấm Phục Linh Thiên

    Vì sao lại gọi là Nấm Phục Linh Thiên

    Thông qua những ảnh chụp của củ nấm, ông Huỳnh Nguyễn Lộc - Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP.HCM khẳng định, đó chính là nấm “phục linh thần”.

    Nấm “phục linh” là tên gọi khoa học và từng xuất hiện trong sách cổ Trung Quốc (Bản kinh, Y học khởi nguyên, Lôi công bào chế dược tính giải, Bản thảo cương mục,...). Loại nấm mọc dưới rễ cây thông và một số loại cây thuộc họ thông được gọi là “phục linh thần”.

    Còn tên gọi “phục linh thiên” là do nó mọc trên nhánh cây, được thiền sư Trần Ngọc Lâm tự đặt khi phát hiện ra trên dãy Hoàng Liên Sơn. Ông Lâm biết tới loại nấm này sau một thời gian trị bệnh ở Tây Tạng (Trung Quốc) và được một vị thiền sư ở đây truyền lại các bài thuốc bí truyền.

    “Mấy năm trước không thấy ai nhắc tới loại nấm này. Cao lắm chỉ có vài người tìm được và cũng chỉ vài củ, nhưng họ để lại dùng chứ không bán. Nấm phục linh thiên mới nổi lên trong khoảng 2 - 3 năm nay và giá cũng không rẻ”,

    Nấm Phục Linh Thiên

    Nấm Phục Linh Thiên

    Theo ông Huỳnh Nguyễn Lộc, Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP.HCM, phục linh là loại nấm ký sinh hoặc hoại sinh trên rễ cây thông, có tên khoa học là Poria cocos Wolf, họ nấm lỗ (Polyporaceae). Thể quả của nấm có hình dạng không đều, đường kính có thể đạt 10 - 30cm.

    Phục linh đã được nuôi cấy thành công và có thể thu hoạch sau 2 năm, loại tốt hơn  phải sau 3 - 4 năm.

    Thành phần của phục linh gồm: Phục linh bì (vỏ ngoài của củ phục linh); xích phục linh (lớp thứ 2 sau phần vỏ) hơi hồng hoặc nâu nhạt; bạch phục linh (phần ruột) có màu trắng. Còn “phục thần” hay “phục linh thần” là chỉ củ phục linh ôm rễ thông bên trong.

    Mỗi bộ phận của phục linh đều có tác dụng riêng biệt: Phục linh bì có tác dụng ưu tiên về lợi tiểu, tiêu thủng, chống phù; xích phục linh có tác dụng chính là hành thuỷ, lợi thấp nhiệt; bạch phục linh hoặc bạch linh có tác dụng lợi thủy trừ thấp (lợi tiểu), kiện tỳ (giúp tiêu hoá tốt) và an thần. Riêng phục thần có tác dụng an thần rất tốt.

    Phục linh chứa polysacchrid gọi là β-pachyman. Một vài nghiên cứu gần đây cho thấy, polysacchrid là chất có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đáng tin cậy.

    Kiêng kỵ: người bị thoát vị, sa dạ dày trực tràng (tỳ hư hạ hãm); người hư hàn di hoạt tinh,  tiểu đêm nhiều hạn chế dùng. Không ăn giấm trong thời gian dùng phục linh.