ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Chữa khỏi ung thư vú nhờ trinh nữ hoàng cung

Có thể là những biện pháp “truyền thống” như: phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu, giúp chữa khỏi bệnh, hóa trị là liệu pháp toàn thân, sử dụng các loại thuốc tiêu diệt các tế bào ung thư, xạ trị là sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.

Náng Lá Rộng, Tỏi Lơi Lá Rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sỹ, Tây nam văn thù lan

Phẫu thuật cắt bỏ khối u: chỉ loại bỏ khối u chứa ung thư, thường áp dụng cho ung thư vú giai đoạn rất sớm.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú: loại bỏ toàn bộ tuyến vú, có thể áp dụng cho cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, tùy theo mong muốn của người bệnh.

Hóa trị có thể được sử dụng:

Một mình: nhằm mục đích giảm triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ cho ung thư vú ở giai đoạn muộn

Xạ trị có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp các phương pháp điều trị khác.

Kết hợp với các phương pháp điều trị khác: phẫu thuật, xạ trị…

Điều trị nội tiết tố: là liệu pháp điều trị toàn thân để làm chậm hoặc ngừng quá trình tăng trưởng của những khối u dương tính với thụ thể hoóc-môn bằng cách ngăn chặn những tế bào ung thư nhận hoóc-môn để phát triển.

Ngoài ra, có thể sử dụng liệu pháp dân gian, đông y trong điều trị ung thư vú. Trinh nữ hoàng cung là một trong những bài thuốc dân gian để điều trị nhiều loại bệnh, trong đó có các khối u lành tính cũng như ác tính (ung thư). Các chất trong trinh nữ hoàng cung có tác dụng kháng u đặc biệt là ung thư vú.

Đơn thuốc có trinh nữ hoàng cung:

Chữa các khối u như u da và u nội tạng, hạn chế sự phát triển của ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư đại tràng gồm các thành phần: Lá trinh nữ hoàng cung 20g, lá đu đủ khô 50g, nga truật 20g, xuyên điền thất 10g. Đổ ba chén nước sắc cho đến khi còn một chén, chia ba lần uống trong ngày sau khi ăn. Dùng lá tươi là tốt nhất.

Nếu không có điều kiện hái lá tươi uống mỗi ngày thì các bạn dùng lá khô: Để có lá khô trước khi phơi hãy trần qua nước sôi rồi lấy ra ngay. Như vậy phơi sẽ mau khô và chất lượng thuốc tốt. Mỗi ngày dùng khoảng 20g lá khô, cách sắc và uống như trên.

Thời gian điều trị (theo kinh nghiệm của Đông y, để điều trị có hiệu quả) cho nữ là 49 ngày uống liên tục, nam là 64 ngày uống liên tục, không nghỉ nửa chừng.

Ngoài vị thuốc trinh nữ hoàng cung bạn có thể tìm hiểu những bài thuốc khác từ thầy thuốc dân gian hoặc những người đã từng mắc ung thư vú và chữa khỏi nhờ những bài thuốc ấy. Để hiệu quả hơn, bạn có thể kết hợp với ăn uống, tập luyện và ngủ nghỉ điều độ nhé.

Thái Thị Hậu/ Nguồn: Báo Vietnamnet

Cây Trinh Nữ Hoàng Cung - Crinum Latifolium

Náng Lá Rộng, Tỏi Lơi Lá Rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sỹ, Tây nam văn thù lan

Tên khác: Náng Lá Rộng, Tỏi Lơi Lá Rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sỹ, Tây nam văn thù lan
Tên khoa học: Crinum Latifolium L

Mô tả: Trinh nữ hoàng cung là một loại cỏ, thân hành như củ hành tây to, đường kính 10–15 cm, bẹ lá úp nhau thành một thân giả dài khoảng 10–15 cm, có nhiều lá mỏng kéo dài từ 80–100 cm, rộng 5–8 cm, hai bên mép lá lượn sóng. Gân lá song song, mặt trên lá lỡm thành rãnh, mặt dưới lá có một sống lá nổi rất rõ, đầu bẹ lá nơi sát đất có màu đỏ tím.

Hoa mọc thành tán gồm 6-18 hoa, trên một cán hoa dài 30–60 cm. Cánh hoa màu trắng có điểm màu tím đỏ, từ thân hành mọc rất nhiều củ con có thẻ tách ra để trồng riêng dễ dàng.

Bộ phận dùng: Hành và lá - Bulbus et Folium Crini Latifolii.

Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Ấn Độ, Xri Lanca, Campuchia, Việt Nam, Philippin, Malaixia. Ở nước ta, cây mọc hoang ven suối trong rừng một số nơi thuộc tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Cũng thường được trồng làm cây cảnh.

Thành phần hoá học: Trong hành có lycorin. Có glucoancaloit có tên latisolin, aglycon có tên latisodin, thân hình lúc cây đang ra hoa có pratorimin và pratosin là hai ancaloit pirolophenanthrindon mới cùng với những chất đã được biết như pratorinmin, ambelin và lycorin, một số dẫn chất ancaloit có tác dụng chống ung thư crinafolin và crinafolidin. Từ dịch ép của cánh hoa thu được 2 ancaloit mới có nhân pyrrolophennanthridin là 2-epilycorin và 2-epipancrassidin.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, chát; có tác dụng gây sung huyết da.

Công dụng và liều dùng: Ở Ấn Độ, người ta dùng hành của cây xào nóng giã đắp làm thuốc trị bệnh thấp khớp; cũng dùng đắp mụn nhọt và áp xe để gây mưng mủ. Còn dịch lá dùng làm thuốc nhỏ tai chữa đau tai.

Theo kinh nghiệm dân gian, Lá cây trinh nữ hoàng cung để chữa những trường hợp u xơ, ung thư tử cung, u xơ và ung thư tiền liệt tuyến với cách sử dụng như sau: ngày uống nước sắc của ba lá trinh nữ hoàng cung hái tươi thái nhỏ ngắn 1–2 cm, sao khô màu hơi vàng, uống luôn trong 7 ngày, rồi nghỉ 7 ngày, sau đó uống tiếp 7 ngày nữa, lại nghỉ 7 ngày và uống tiếp 7 ngày. Tổng cộng 3 đợt uống là 63 lá, xen kẽ 2 đợt nghỉ uống, mỗi đợt 7 ngày.

Theo y học hiện đại, trong cây Trinh nữ hoàng cung Việt Nam có chứa những hoạt chất sinh học với khả năng ngăn chặn sự phát triển của tế bào u và kích thích tế bào lympho T hoạt động và phát triển. Đồng thời chỉ thấy có cây Trinh nữ hoàng cung Crinum latifolium L. mới có hoạt chất tác dụng hỗ trợ trị liệu chứng phì đại lành tính tuyến tiền liệt và u xơ tử cung và hoạt chất ức chế sự tăng trưởng của tễ bào ung thư (antitumor) như Crinafolidine, Crinafoline, Paratorimin.

Trong khi có tới 12 loại giống cây Trinh nữ hoàng cung đều thuộc họ náng Crinum, nhưng tác dụng cũng khác nhau ví dụ Trinh nữ hoàng cung Campuchia ngoài tác dụng giống Trinh nữ hoàng cung Việt Nam nhưng lại có thêm tác dụng tránh thai.

Các kết quả nghiên cứu dược lý cho thấy cao methanol của thân, rễ và cao chiết alkaloid toàn phần của trinh nữ hoàng cung đều có tác dụng ức chế phân bào. Trong mô hình gây u báng sacom và ung thư đùi ở chuột nhắt, hợp chất chứa cao này đã hạn chế sự phát triển của khối u và di căn tế bào. Một số alkaloid trong cây có hoạt tính sinh học như Lycorin ức chế proteine và DNA của tế bào chuột, đồng thời ức chế u báng cấy ở chuột. Trong thử nghiệm Lycorin làm giảm khả năng sống của tế bào u, làm ngừng sự phát triển của virus bại liệt, đó là ức chế các tiền chất cần thiết cho sự sinh trưởng của virus gây bệnh bại liệt…

Ghi chú: Hiện nay nhiều người trồng cây Trinh nữ hoàng cung lấy lá làm thuốc trị viêm tiền liệt tuyến. Chúng tôi xác định là thuộc loài trên. Cần tiếp tục nghiên cứu.


Kiến thức hay


Các bệnh ung thư


Kiến thức trẻ em


Các loại bệnh thường gặp



Tin mới đăng

Xem nhiều nhất

Bạn cần biết

Chữa khỏi ung thư vú nhờ trinh nữ hoàng cung

Có thể là những biện pháp “truyền thống” như: phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu, giúp chữa khỏi bệnh, hóa trị là liệu pháp toàn thân, sử dụng các loại thuốc tiêu diệt các tế bào ung thư, xạ trị là sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư.

Náng Lá Rộng, Tỏi Lơi Lá Rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sỹ, Tây nam văn thù lan

Phẫu thuật cắt bỏ khối u: chỉ loại bỏ khối u chứa ung thư, thường áp dụng cho ung thư vú giai đoạn rất sớm.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú: loại bỏ toàn bộ tuyến vú, có thể áp dụng cho cả giai đoạn sớm và giai đoạn muộn, tùy theo mong muốn của người bệnh.

Hóa trị có thể được sử dụng:

Một mình: nhằm mục đích giảm triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ cho ung thư vú ở giai đoạn muộn

Xạ trị có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp các phương pháp điều trị khác.

Kết hợp với các phương pháp điều trị khác: phẫu thuật, xạ trị…

Điều trị nội tiết tố: là liệu pháp điều trị toàn thân để làm chậm hoặc ngừng quá trình tăng trưởng của những khối u dương tính với thụ thể hoóc-môn bằng cách ngăn chặn những tế bào ung thư nhận hoóc-môn để phát triển.

Ngoài ra, có thể sử dụng liệu pháp dân gian, đông y trong điều trị ung thư vú. Trinh nữ hoàng cung là một trong những bài thuốc dân gian để điều trị nhiều loại bệnh, trong đó có các khối u lành tính cũng như ác tính (ung thư). Các chất trong trinh nữ hoàng cung có tác dụng kháng u đặc biệt là ung thư vú.

Đơn thuốc có trinh nữ hoàng cung:

Chữa các khối u như u da và u nội tạng, hạn chế sự phát triển của ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư đại tràng gồm các thành phần: Lá trinh nữ hoàng cung 20g, lá đu đủ khô 50g, nga truật 20g, xuyên điền thất 10g. Đổ ba chén nước sắc cho đến khi còn một chén, chia ba lần uống trong ngày sau khi ăn. Dùng lá tươi là tốt nhất.

Nếu không có điều kiện hái lá tươi uống mỗi ngày thì các bạn dùng lá khô: Để có lá khô trước khi phơi hãy trần qua nước sôi rồi lấy ra ngay. Như vậy phơi sẽ mau khô và chất lượng thuốc tốt. Mỗi ngày dùng khoảng 20g lá khô, cách sắc và uống như trên.

Thời gian điều trị (theo kinh nghiệm của Đông y, để điều trị có hiệu quả) cho nữ là 49 ngày uống liên tục, nam là 64 ngày uống liên tục, không nghỉ nửa chừng.

Ngoài vị thuốc trinh nữ hoàng cung bạn có thể tìm hiểu những bài thuốc khác từ thầy thuốc dân gian hoặc những người đã từng mắc ung thư vú và chữa khỏi nhờ những bài thuốc ấy. Để hiệu quả hơn, bạn có thể kết hợp với ăn uống, tập luyện và ngủ nghỉ điều độ nhé.

Thái Thị Hậu/ Nguồn: Báo Vietnamnet

Cây Trinh Nữ Hoàng Cung - Crinum Latifolium

Náng Lá Rộng, Tỏi Lơi Lá Rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sỹ, Tây nam văn thù lan

Tên khác: Náng Lá Rộng, Tỏi Lơi Lá Rộng, tây nam văn châu lan, tỏi Thái Lan, vạn châu lan, thập bát học sỹ, Tây nam văn thù lan
Tên khoa học: Crinum Latifolium L

Mô tả: Trinh nữ hoàng cung là một loại cỏ, thân hành như củ hành tây to, đường kính 10–15 cm, bẹ lá úp nhau thành một thân giả dài khoảng 10–15 cm, có nhiều lá mỏng kéo dài từ 80–100 cm, rộng 5–8 cm, hai bên mép lá lượn sóng. Gân lá song song, mặt trên lá lỡm thành rãnh, mặt dưới lá có một sống lá nổi rất rõ, đầu bẹ lá nơi sát đất có màu đỏ tím.

Hoa mọc thành tán gồm 6-18 hoa, trên một cán hoa dài 30–60 cm. Cánh hoa màu trắng có điểm màu tím đỏ, từ thân hành mọc rất nhiều củ con có thẻ tách ra để trồng riêng dễ dàng.

Bộ phận dùng: Hành và lá - Bulbus et Folium Crini Latifolii.

Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Ấn Độ, Xri Lanca, Campuchia, Việt Nam, Philippin, Malaixia. Ở nước ta, cây mọc hoang ven suối trong rừng một số nơi thuộc tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Cũng thường được trồng làm cây cảnh.

Thành phần hoá học: Trong hành có lycorin. Có glucoancaloit có tên latisolin, aglycon có tên latisodin, thân hình lúc cây đang ra hoa có pratorimin và pratosin là hai ancaloit pirolophenanthrindon mới cùng với những chất đã được biết như pratorinmin, ambelin và lycorin, một số dẫn chất ancaloit có tác dụng chống ung thư crinafolin và crinafolidin. Từ dịch ép của cánh hoa thu được 2 ancaloit mới có nhân pyrrolophennanthridin là 2-epilycorin và 2-epipancrassidin.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, chát; có tác dụng gây sung huyết da.

Công dụng và liều dùng: Ở Ấn Độ, người ta dùng hành của cây xào nóng giã đắp làm thuốc trị bệnh thấp khớp; cũng dùng đắp mụn nhọt và áp xe để gây mưng mủ. Còn dịch lá dùng làm thuốc nhỏ tai chữa đau tai.

Theo kinh nghiệm dân gian, Lá cây trinh nữ hoàng cung để chữa những trường hợp u xơ, ung thư tử cung, u xơ và ung thư tiền liệt tuyến với cách sử dụng như sau: ngày uống nước sắc của ba lá trinh nữ hoàng cung hái tươi thái nhỏ ngắn 1–2 cm, sao khô màu hơi vàng, uống luôn trong 7 ngày, rồi nghỉ 7 ngày, sau đó uống tiếp 7 ngày nữa, lại nghỉ 7 ngày và uống tiếp 7 ngày. Tổng cộng 3 đợt uống là 63 lá, xen kẽ 2 đợt nghỉ uống, mỗi đợt 7 ngày.

Theo y học hiện đại, trong cây Trinh nữ hoàng cung Việt Nam có chứa những hoạt chất sinh học với khả năng ngăn chặn sự phát triển của tế bào u và kích thích tế bào lympho T hoạt động và phát triển. Đồng thời chỉ thấy có cây Trinh nữ hoàng cung Crinum latifolium L. mới có hoạt chất tác dụng hỗ trợ trị liệu chứng phì đại lành tính tuyến tiền liệt và u xơ tử cung và hoạt chất ức chế sự tăng trưởng của tễ bào ung thư (antitumor) như Crinafolidine, Crinafoline, Paratorimin.

Trong khi có tới 12 loại giống cây Trinh nữ hoàng cung đều thuộc họ náng Crinum, nhưng tác dụng cũng khác nhau ví dụ Trinh nữ hoàng cung Campuchia ngoài tác dụng giống Trinh nữ hoàng cung Việt Nam nhưng lại có thêm tác dụng tránh thai.

Các kết quả nghiên cứu dược lý cho thấy cao methanol của thân, rễ và cao chiết alkaloid toàn phần của trinh nữ hoàng cung đều có tác dụng ức chế phân bào. Trong mô hình gây u báng sacom và ung thư đùi ở chuột nhắt, hợp chất chứa cao này đã hạn chế sự phát triển của khối u và di căn tế bào. Một số alkaloid trong cây có hoạt tính sinh học như Lycorin ức chế proteine và DNA của tế bào chuột, đồng thời ức chế u báng cấy ở chuột. Trong thử nghiệm Lycorin làm giảm khả năng sống của tế bào u, làm ngừng sự phát triển của virus bại liệt, đó là ức chế các tiền chất cần thiết cho sự sinh trưởng của virus gây bệnh bại liệt…

Ghi chú: Hiện nay nhiều người trồng cây Trinh nữ hoàng cung lấy lá làm thuốc trị viêm tiền liệt tuyến. Chúng tôi xác định là thuộc loài trên. Cần tiếp tục nghiên cứu.