ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Cây Chay Bắc Bộ, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của Chay Bắc Bộ

Cây chay (Artocarpus tonkinensis A. Chev.), họ Dâu tằm (Moraceae). Cây chay phổ biến ở một số tỉnh miền Bắc nên còn gọi chay Bắc Bộ. Cây chay trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam đã được các thầy lang và nhân dân dùng để chữa bệnh viêm khớp, đau lưng, phong thể thấp, viêm đại tràng, các nghiêm cứu mới chi ra rằng Chiết xuất từ rễ và lá của cây chay (tên khoa học artocarpus) có các thành phần chống viêm khớp, trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, ung thư gan và ung thư dạ dày.

Tên khoa học: Artocarpus Tonkinensis A. Chev ex Gagnep

Tên khác: Chay Bắc Bộ, còn gọi là chay vỏ tía hay chay Bắc

Mô tả cây: Cây gỗ to, cao đến 15m, thân nhẵn, mọc thẳng, phân cành nhiều. Cành lá non có lông hung, sau nhẵn, vỏ màu xám. Lá mọc so le, xếp thành hai hàng, phiến có hình trái xoan hay bầu dục, dài 7-15cm, rộng 3-7cm, đầu nhọn, gốc tròn, gân nổi rõ, mặt dưới có lông ngắn màu hung. Hoa mọc đơn độc ở nách lá. Quả phức gần tròn, cuống ngắn màu vàng, thịt mềm màu hồng, vị chua. Hạt to, chứa nhiều nhựa dính. Mùa hoa tháng 3-4, mùa quả tháng 7-9.

Bộ phận dùng: Quả, rễ - Fructus et Radix Artocarpi Tonkinensis.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc tự nhiên ở rừng thứ sinh một số tỉnh miền Bắc (Hà Giang, Hà Bắc, Thanh Hoá, Nghệ An...) và cũng được trồng để lấy quả ăn và vỏ dùng ăn trầu. Quả và rễ cũng được dùng làm thuốc, có thể dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần.

Thành phần hóa học: Về thành phần hóa học, quả chay xanh chứa các hợp chất saponin steroid alkaloid: solasodin và solasonin. Dịch quả chay chứa dimethyl nitrosamin. Lá chứa nhiều protein và canxi. Vỏ thân chay chứa các hợp chất stilben, flavonoid: Catechin, afzlectin 3-O- α-L-rhamnopyranosid,… Vỏ rễ chứa các hợp chấttanin, polyphenol...

Tính vị, tác dụng: Quả chay có vị chua, tính bình, có tác dụng thu liễm, cầm máu và thanh nhiệt, khai vị giúp tiêu hoá, làm ăn ngon cơm. Rễ chay có vị chát, cũng có tác dụng làm se.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Quả chay chín có thể dùng ăn sống, nấu canh chua, có thể phơi khô cất dành để nấu canh. Người ta dùng quả chay để chữa phổi nóng, ho ra máu, thổ huyết, chảy máu mũi, đau họng, hoặc dạ dày thiếu toan, kém ăn, dùng quả chay ăn hoặc ép lấy nước uống. Nếu không có quả chay tươi thì dùng 30-60g quả chay khô hay rễ chay sắc uống. Rễ chay, chủ yếu là vỏ rễ dùng ăn với trầu cau. Thường được dùng chữa tê thấp, đau lưng, mỏi gối và chữa rong kinh, bạch đới; còn dùng làm chắc chân răng. Liều dùng 20-40g dạng thuốc sắc.

Mới: Về tác dụng sinh học, dịch chiết toàn phần từ lá cây chay có tác dụng ức chế miễn dịch trên động vật thực nghiệm, ức chế biểu hiện của một số gene liên quan đến quá trình ung thư tủy xương. Cao chiết lá chay chống viêm, làm giảm quá trình thải ghép trong cơ thể. Ngoài ra còn tác dụng lên gene điều chỉnh bệnh viêm khớp dạng thấp. Flavonoid của lá chay có tác dụng kìm hãm tăng sinh tế bào ung thư tủy xương.

LƯU Ý:

Ghi chú: Tuỳ theo địa phương, người ta còn dùng những loài khác để ăn trầu như Artocarpus gomezianus Wall. (A. masticata Gagnep.) cũng gọi là Chay, có lá cũng dùng chữa đau lưng mỏi gối.

Ngoài cây chay Bắc Bộ nói trên, còn có một loài cây chay khác (Artocarpus lakoocha Roxb.), cùng họ dâu tằm (Moraceae), mọc ở Lào Cai, Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh (Thảo cẩm viên). Quả chứa các hợp chất polyphenol. Vỏ thân chứa lupeol, β - amyrin. Ở nước ngoài, dùng hạt cây chay này làm thuốc xổ, hoặc thuốc trị giun kim, giun đũa. Vỏ thân cây làm bột đắp vết thương để hút mủ, hoặc đắp trị mụn nhọt, lở ngứa.

Cách dùng theo dân gian:

Quả chay chín để ăn tươi hoặc nấu canh chua, hoặc khi quả còn ương (sắp chín), bổ ra, phơi khô, hoặc sấy khô, để dùng dần. Cũng có thể dùng 5 - 7 quả đem ép lấy dịch uống tươi; hoặc có thể dùng quả khô 20g/ngày, sắc uống. Quả chay có vị chua, tính bình, có tác dụng kích thích tiêu hóa, tác dụng thu liễm (săn da), dùng trị ho do phế nhiệt, ho ra máu, đau họng, nôn ra máu, chảy máu cam, hoặc trường hợp dạ dày thiếu acid.

Lá chay trị bệnh nhược cơ, một bệnh tự miễn, liên quan đến trương lực các cơ trong cơ thể.


Đơn thuốc có dùng cây:

1. Trị bệnh tê thấp, đau lưng, mỏi gối: lá và rễ chay, mỗi thứ 30g, thổ phục linh 15g, thiên niên kiện 12g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần trước bữa ăn 2 giờ.

2. Rong kinh, bạch đới: Rễ Chay, rễ Cỏ tranh, mỗi vị 50-60g, sắc nước uống.

3. Đau răng, lợi: rễ chay 40g, sắc đặc, ngậm nhiều lần trong ngày

Mua ở đâu:

Đang cập nhật...

Thông tin khác:

Cây Chay đã được nghiên cứu như sau:

Lá Chay được chiết bằng nước, làm bột mịn bằng phương pháp sấy phun sương, đóng viên nhộng 400 mg để thử độc tính, thử lâm sàng đối chiếu với cyclosporin A.

Thử độc tính, thấy không độc, có tác dụng tốt cho quá trình sinh trưởng của động vật thí nghiệm.

Thử lâm sàng, bệnh nhược cơ: 31 bệnh nhân uống viên nhộng lá Chay, 92% bệnh nhân khỏi bệnh. Đối chứng với số bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp cắt bỏ tuyến ức chỉ đạt 75%. Bệnh nhân điều trị bằng prednisolon chỉ đạt 88%.

Trong 2 năm 1998 và 1999, Viện Hóa học đã xác định được cấu trúc hóa học của 6 chất triterpenoid trong đó có 4 chất ít thấy trong tự nhiên và đã thử hoạt tính sinh học các phân đoạn tách từ dịch chiết lá Chay đối chứng với cyclosporin A, cho kết quả:

Tác dụng ức chế miễn dịch trên gà đã gây suy giảm miễn dịch bằng virus Gumboro, dịch chiết lá Chay tương đương cyclosporin A.

Khi tăng liều: cyclosporin A: tăng độc tính, dịch chiết lá Chay: không có độc tính.

Kết luận: dịch chiết lá Chay có tác dụng điều hòa hệ miễn dịch tương đương cyclosporin A, nhưng an toàn không độc cyclosporin A.

Tại Việt Nam, các thuốc ức chế phản ứng thải ghép dành cho cho người ghép thận hầu hết được nhập ngoại với giá thành cao. Do đó, người ghép thận phải chịu nhiều tốn kém sau khi được mổ ghép thận. 
Từ thực tế đó, Tiến sĩ Nguyễn Đặng Dũng, giảng viên Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng) đã nghiên cứu tác dụng của flavonoid trong lá cây Chay để bảo quản mô thận và ức chế phản ứng thải ghép. 
Từ các nghiên cứu này, có thể sản xuất ra các thuốc mới chống thải ghép có giá thành rẻ hơn so với thuốc nhập ngoại.
Bằng phương pháp riêng xử lý lá cây chay tươi trong phòng thí nghiệm, TS Dũng đã tách chiết flavonoid từ lá cây chay. Flavonoid là một hợp chất tự nhiên phân bố rộng rãi trong thực vật. Chúng có nhiều tác dụng sinh học quan trọng như tác dụng ức chế miễn dịch.
Qua thí nghiệm đối với một số loại chuột nhắt, chuột cống và chuột lang, cho thấy chất này có tác dụng ức chế phản ứng thải ghép thận.
Đồng thời, trong quá trình tách chiết các hợp chất hữu cơ có trong lá cây chay, TS Dũng cũng thu được một số chất khác như kaempferol (dạng bột vô định hình, màu vàng) và ampelopsin (dạng tinh thể hình kim, màu vàng) từ lá chay.
Những chất nói trên, theo giới chuyên môn, có tác dụng tốt trong phẫu thuật ghép tạng.

Nghiên cứu mới : Tiềm năng chữa bệnh của cây chay (Artocarpus)

“Sau khi biết được thông tin về cây thuốc chữa bệnh này từ GS. Trần Văn Sung, chúng tôi đã có thử nghiệm. Sau khi chiết xuất từ cây đó, chúng tôi đã dùng thí nghiệm trên động vật, chân bị thương của chúng đã khỏe lại bình thường. Cây chay có tác dụng chữa bệnh viêm khớp. Cây chay chứa chất tonkinensis có tác dụng tốt chữa bệnh về khớp. Cây thực vật chứa thành phần cơ bản có thể được sử dụng chế tạo thuốc. ”, GS.Domenico Delfino chia sẻ.

Chiết xuất từ rễ và lá của cây chay (tên khoa học artocarpus) có các thành phần chống viêm khớp, trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, ung thư gan và ung thư dạ dày.


Sức khỏe đời sống


Bài thuốc nam chữa bệnh


Bệnh ung thư


Cây thuốc Nam


Bệnh thường gặp



Tin mới đăng

CÂY THUỐC VIỆT NAM

Bạn cần biết

Cây Chay Bắc Bộ, Tên khoa học, Thành phần hóa học, tác dụng chữa bệnh của Chay Bắc Bộ

Cây chay (Artocarpus tonkinensis A. Chev.), họ Dâu tằm (Moraceae). Cây chay phổ biến ở một số tỉnh miền Bắc nên còn gọi chay Bắc Bộ. Cây chay trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam đã được các thầy lang và nhân dân dùng để chữa bệnh viêm khớp, đau lưng, phong thể thấp, viêm đại tràng, các nghiêm cứu mới chi ra rằng Chiết xuất từ rễ và lá của cây chay (tên khoa học artocarpus) có các thành phần chống viêm khớp, trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, ung thư gan và ung thư dạ dày.

Tên khoa học: Artocarpus Tonkinensis A. Chev ex Gagnep

Tên khác: Chay Bắc Bộ, còn gọi là chay vỏ tía hay chay Bắc

Mô tả cây: Cây gỗ to, cao đến 15m, thân nhẵn, mọc thẳng, phân cành nhiều. Cành lá non có lông hung, sau nhẵn, vỏ màu xám. Lá mọc so le, xếp thành hai hàng, phiến có hình trái xoan hay bầu dục, dài 7-15cm, rộng 3-7cm, đầu nhọn, gốc tròn, gân nổi rõ, mặt dưới có lông ngắn màu hung. Hoa mọc đơn độc ở nách lá. Quả phức gần tròn, cuống ngắn màu vàng, thịt mềm màu hồng, vị chua. Hạt to, chứa nhiều nhựa dính. Mùa hoa tháng 3-4, mùa quả tháng 7-9.

Bộ phận dùng: Quả, rễ - Fructus et Radix Artocarpi Tonkinensis.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc tự nhiên ở rừng thứ sinh một số tỉnh miền Bắc (Hà Giang, Hà Bắc, Thanh Hoá, Nghệ An...) và cũng được trồng để lấy quả ăn và vỏ dùng ăn trầu. Quả và rễ cũng được dùng làm thuốc, có thể dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần.

Thành phần hóa học: Về thành phần hóa học, quả chay xanh chứa các hợp chất saponin steroid alkaloid: solasodin và solasonin. Dịch quả chay chứa dimethyl nitrosamin. Lá chứa nhiều protein và canxi. Vỏ thân chay chứa các hợp chất stilben, flavonoid: Catechin, afzlectin 3-O- α-L-rhamnopyranosid,… Vỏ rễ chứa các hợp chấttanin, polyphenol...

Tính vị, tác dụng: Quả chay có vị chua, tính bình, có tác dụng thu liễm, cầm máu và thanh nhiệt, khai vị giúp tiêu hoá, làm ăn ngon cơm. Rễ chay có vị chát, cũng có tác dụng làm se.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Quả chay chín có thể dùng ăn sống, nấu canh chua, có thể phơi khô cất dành để nấu canh. Người ta dùng quả chay để chữa phổi nóng, ho ra máu, thổ huyết, chảy máu mũi, đau họng, hoặc dạ dày thiếu toan, kém ăn, dùng quả chay ăn hoặc ép lấy nước uống. Nếu không có quả chay tươi thì dùng 30-60g quả chay khô hay rễ chay sắc uống. Rễ chay, chủ yếu là vỏ rễ dùng ăn với trầu cau. Thường được dùng chữa tê thấp, đau lưng, mỏi gối và chữa rong kinh, bạch đới; còn dùng làm chắc chân răng. Liều dùng 20-40g dạng thuốc sắc.

Mới: Về tác dụng sinh học, dịch chiết toàn phần từ lá cây chay có tác dụng ức chế miễn dịch trên động vật thực nghiệm, ức chế biểu hiện của một số gene liên quan đến quá trình ung thư tủy xương. Cao chiết lá chay chống viêm, làm giảm quá trình thải ghép trong cơ thể. Ngoài ra còn tác dụng lên gene điều chỉnh bệnh viêm khớp dạng thấp. Flavonoid của lá chay có tác dụng kìm hãm tăng sinh tế bào ung thư tủy xương.

LƯU Ý:

Ghi chú: Tuỳ theo địa phương, người ta còn dùng những loài khác để ăn trầu như Artocarpus gomezianus Wall. (A. masticata Gagnep.) cũng gọi là Chay, có lá cũng dùng chữa đau lưng mỏi gối.

Ngoài cây chay Bắc Bộ nói trên, còn có một loài cây chay khác (Artocarpus lakoocha Roxb.), cùng họ dâu tằm (Moraceae), mọc ở Lào Cai, Thanh Hóa, TP. Hồ Chí Minh (Thảo cẩm viên). Quả chứa các hợp chất polyphenol. Vỏ thân chứa lupeol, β - amyrin. Ở nước ngoài, dùng hạt cây chay này làm thuốc xổ, hoặc thuốc trị giun kim, giun đũa. Vỏ thân cây làm bột đắp vết thương để hút mủ, hoặc đắp trị mụn nhọt, lở ngứa.

Cách dùng theo dân gian:

Quả chay chín để ăn tươi hoặc nấu canh chua, hoặc khi quả còn ương (sắp chín), bổ ra, phơi khô, hoặc sấy khô, để dùng dần. Cũng có thể dùng 5 - 7 quả đem ép lấy dịch uống tươi; hoặc có thể dùng quả khô 20g/ngày, sắc uống. Quả chay có vị chua, tính bình, có tác dụng kích thích tiêu hóa, tác dụng thu liễm (săn da), dùng trị ho do phế nhiệt, ho ra máu, đau họng, nôn ra máu, chảy máu cam, hoặc trường hợp dạ dày thiếu acid.

Lá chay trị bệnh nhược cơ, một bệnh tự miễn, liên quan đến trương lực các cơ trong cơ thể.


Đơn thuốc có dùng cây:

1. Trị bệnh tê thấp, đau lưng, mỏi gối: lá và rễ chay, mỗi thứ 30g, thổ phục linh 15g, thiên niên kiện 12g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần trước bữa ăn 2 giờ.

2. Rong kinh, bạch đới: Rễ Chay, rễ Cỏ tranh, mỗi vị 50-60g, sắc nước uống.

3. Đau răng, lợi: rễ chay 40g, sắc đặc, ngậm nhiều lần trong ngày

Mua ở đâu:

Đang cập nhật...

Thông tin khác:

Cây Chay đã được nghiên cứu như sau:

Lá Chay được chiết bằng nước, làm bột mịn bằng phương pháp sấy phun sương, đóng viên nhộng 400 mg để thử độc tính, thử lâm sàng đối chiếu với cyclosporin A.

Thử độc tính, thấy không độc, có tác dụng tốt cho quá trình sinh trưởng của động vật thí nghiệm.

Thử lâm sàng, bệnh nhược cơ: 31 bệnh nhân uống viên nhộng lá Chay, 92% bệnh nhân khỏi bệnh. Đối chứng với số bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp cắt bỏ tuyến ức chỉ đạt 75%. Bệnh nhân điều trị bằng prednisolon chỉ đạt 88%.

Trong 2 năm 1998 và 1999, Viện Hóa học đã xác định được cấu trúc hóa học của 6 chất triterpenoid trong đó có 4 chất ít thấy trong tự nhiên và đã thử hoạt tính sinh học các phân đoạn tách từ dịch chiết lá Chay đối chứng với cyclosporin A, cho kết quả:

Tác dụng ức chế miễn dịch trên gà đã gây suy giảm miễn dịch bằng virus Gumboro, dịch chiết lá Chay tương đương cyclosporin A.

Khi tăng liều: cyclosporin A: tăng độc tính, dịch chiết lá Chay: không có độc tính.

Kết luận: dịch chiết lá Chay có tác dụng điều hòa hệ miễn dịch tương đương cyclosporin A, nhưng an toàn không độc cyclosporin A.

Tại Việt Nam, các thuốc ức chế phản ứng thải ghép dành cho cho người ghép thận hầu hết được nhập ngoại với giá thành cao. Do đó, người ghép thận phải chịu nhiều tốn kém sau khi được mổ ghép thận. 
Từ thực tế đó, Tiến sĩ Nguyễn Đặng Dũng, giảng viên Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng) đã nghiên cứu tác dụng của flavonoid trong lá cây Chay để bảo quản mô thận và ức chế phản ứng thải ghép. 
Từ các nghiên cứu này, có thể sản xuất ra các thuốc mới chống thải ghép có giá thành rẻ hơn so với thuốc nhập ngoại.
Bằng phương pháp riêng xử lý lá cây chay tươi trong phòng thí nghiệm, TS Dũng đã tách chiết flavonoid từ lá cây chay. Flavonoid là một hợp chất tự nhiên phân bố rộng rãi trong thực vật. Chúng có nhiều tác dụng sinh học quan trọng như tác dụng ức chế miễn dịch.
Qua thí nghiệm đối với một số loại chuột nhắt, chuột cống và chuột lang, cho thấy chất này có tác dụng ức chế phản ứng thải ghép thận.
Đồng thời, trong quá trình tách chiết các hợp chất hữu cơ có trong lá cây chay, TS Dũng cũng thu được một số chất khác như kaempferol (dạng bột vô định hình, màu vàng) và ampelopsin (dạng tinh thể hình kim, màu vàng) từ lá chay.
Những chất nói trên, theo giới chuyên môn, có tác dụng tốt trong phẫu thuật ghép tạng.

Nghiên cứu mới : Tiềm năng chữa bệnh của cây chay (Artocarpus)

“Sau khi biết được thông tin về cây thuốc chữa bệnh này từ GS. Trần Văn Sung, chúng tôi đã có thử nghiệm. Sau khi chiết xuất từ cây đó, chúng tôi đã dùng thí nghiệm trên động vật, chân bị thương của chúng đã khỏe lại bình thường. Cây chay có tác dụng chữa bệnh viêm khớp. Cây chay chứa chất tonkinensis có tác dụng tốt chữa bệnh về khớp. Cây thực vật chứa thành phần cơ bản có thể được sử dụng chế tạo thuốc. ”, GS.Domenico Delfino chia sẻ.

Chiết xuất từ rễ và lá của cây chay (tên khoa học artocarpus) có các thành phần chống viêm khớp, trị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, ung thư gan và ung thư dạ dày.