ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt


  • Cây thảo dược Thổ Phục Linh công dụng và cách dùng


    Theo Đỗ Tất Lợi, thổ phục linh là thảo dược có vị ngọt, nhạt, tính bình, tác dụng vào 2 kinh can và vị. Thổ phục linh có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cốt, chữa đau khớp xương, trừ sưng thủng.

    Thổ Phục Linh

    Cây Thổ Phục Linh - Smilax Glabra

    Tên khác: Thổ phục linh, củ khúc khắc, củ kim cang 

    Tên khoa học: Smilax Glabra Roxb

    Thổ Phục Linh (Rhizoma Smilacis) là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều cây thuộc chi Smalax, trong đó có cây Smilax Glabra

    Mô tả cây: Thổ Phục Linh hay cây khúc khắc(Smilax Glabra) là một loại sống lâu năm. Dây leo trườn dài 4-5m (tới 10m), có nhiều nhánh nhỏ, gầy, khô gai, thường có tua cuốn dài. Lá hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5 - 13cm, rộng 3 - 7cm, chắc cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gân con. Hoa mọc thành tán chừng 20 - 30 hoa. Cuống chung chỉ ngắm chừng 2mm cuống riêng dài hơn, chừng 10mm hay hơn. Qủa mọng, hình cầu, đường kính 6-7mm, hơi 3 cạnh, có 3 hạt

    Phân bố, thu hái và chế biến: Mọc hoang khắp nơi ở nước ta. Thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào thu đông. Đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ nhỏ rửa sạch, đang còn ướt thái mỏng (cho dễ thái) , phơi khô; có khi người ta ngâm nước nóng ít phút rồi mới thái cho dễ hơn. Có nơi lại để nguyên củ phơi khô.

    Thổ Phục Linh

    Thành phần hóa học: Lá và ngọn non chứa theo tỷ lệ g%: nước 83,3; protein 2,4; glucid 8,9; xơ 2,2; tro 1,2 và theo mg%: caroten 1,6; vitamin C 18. Trong thân rễ có nhiều tinh bột và có (-sitosterol, stigmasterol, smilax saponin, tigogenin.

    Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, hơi chát, tính bình; có tác dụng khư phong giải độc, tiêu thũng, tán kết, lợi gân cốt, kiện tỳ vị.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng Thổ Phục Linh chữa: Tiêu hoá không bình thường, đau bụng ỉa chảy; Viêm thận, viêm bàng quang; Phong thấp, viêm khớp, đòn ngã tổn thương; Tràng nhạc, mụn nhọt độc, lở ngứa, viêm mủ da, giang mai; Giải độc thuỷ ngân và bạc. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc, cao nước hay hoàn tán. Không dùng nước trà để uống thuốc.

    Ở Ấn Độ, nước sắc rễ tươi dùng trị đau bệnh hoa liễu và các vết loét.

    Thổ phục linh (danh pháp khoa học: Smilax glabra) còn được gọi là dây khum, hồng thổ linh, sơn trư phấn, sơn kỳ lương, linh phạn đoàn là một loài cây leo, thân mềm, không gai thuộc họ Smilacaceae. Lá hình trứng, gốc lá hơi hình tim, mọc so le, có cuống dài, mang tua cuốn. Cụm hoa hình táng, mọc ở kẽ lá, có cuống dài. Hoa màu hồng hoặc điểm chấm đỏ gồm hoa đực và hoa cái riêng biệt. Quả hình tròn, đường kính 8 đến 10mm, khi chín thường có màu đen, quả có 2 đến 4 hạt hình trứng.

    Thổ Phục Linh (Rhizoma Smilacis) là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều cây thuộc chi Smalax, trong đó có cây Smilax Glabra

    Đơn thuốc:

    1. Viêm mủ da: Thổ phục linh 30g, Kim ngân 15g, Cam thảo 15g sắc uống.

    2. Phong thấp, gân xương đau nhức, tê buốt: Thổ phục linh 20g. Thiên niên kiện, Ðương quy đều 8g, Bạch chỉ 6g, Cốt toái bổ 10g, sắc uống.

    3. Giang mai: Thổ phục linh 40g, Hà thủ ô 16g, vỏ Núc nác 16g, gai Bồ kết đốt tồn tính 8g, Ké đầu ngựa 12g sắc uống.

    4. Phong thấp khớp: Hà thủ ô đỏ 8g, Sâm bố chính 8g, Thổ phục linh 8g, Ðỗ trọng 6g, Cỏ xước 6g, Tang ký sinh 8g, Vòi voi 8g, Cây lá lốt 6g, Mắc cỡ gai 6g, Dây đau xương 6g, sắc uống hoặc tán bột, luyện viên. (Kinh nghiệm của Lương y Ðỗ Văn Trạnh ở Long Xuyên).

    5. Trị bệnh Leptospira: Mỗi ngày dùng Thổ phục linh 60g, Cam thảo 9g, sắc uống. Trường hợp nặng và cơ thể khỏe có thể dùng tới 150g gia thêm Hoàng cầm, Nhân trần, Phòng kỷ, Trạch tả trị 80 ca đều khỏi ( Thiểm tây Tân y dược 1972,4:53).

    6. Trị bệnh vẩy nến (psoriasis): Hạ khô thảo nam ( cây cải trời) 80 - 120g, Thổ phục linh 40 - 80g, đổ 500ml nước sắc còn 300ml chia 3 - 4 lần uống trong ngày> Có phối hợp với một số thuốc tây bôi ngoài như: mỡ salixilic 5%, acid crisophanic 5%, dầu Cadơ 10%, mỡ Sabouraud, điều trị 21 người khỏi hẳn (Báo cáo của khoa Da liễu Viện Quân y 108, năm 1961).



    Sức khỏe đời sống


    Bài thuốc nam chữa bệnh


    Bệnh ung thư


    Cây thuốc Nam


    Bệnh thường gặp



    Tin mới đăng

    CÂY THUỐC VIỆT NAM

    Bạn cần biết


  • Cây thảo dược Thổ Phục Linh công dụng và cách dùng


    Theo Đỗ Tất Lợi, thổ phục linh là thảo dược có vị ngọt, nhạt, tính bình, tác dụng vào 2 kinh can và vị. Thổ phục linh có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cốt, chữa đau khớp xương, trừ sưng thủng.

    Thổ Phục Linh

    Cây Thổ Phục Linh - Smilax Glabra

    Tên khác: Thổ phục linh, củ khúc khắc, củ kim cang 

    Tên khoa học: Smilax Glabra Roxb

    Thổ Phục Linh (Rhizoma Smilacis) là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều cây thuộc chi Smalax, trong đó có cây Smilax Glabra

    Mô tả cây: Thổ Phục Linh hay cây khúc khắc(Smilax Glabra) là một loại sống lâu năm. Dây leo trườn dài 4-5m (tới 10m), có nhiều nhánh nhỏ, gầy, khô gai, thường có tua cuốn dài. Lá hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5 - 13cm, rộng 3 - 7cm, chắc cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiều gân con. Hoa mọc thành tán chừng 20 - 30 hoa. Cuống chung chỉ ngắm chừng 2mm cuống riêng dài hơn, chừng 10mm hay hơn. Qủa mọng, hình cầu, đường kính 6-7mm, hơi 3 cạnh, có 3 hạt

    Phân bố, thu hái và chế biến: Mọc hoang khắp nơi ở nước ta. Thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào thu đông. Đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ nhỏ rửa sạch, đang còn ướt thái mỏng (cho dễ thái) , phơi khô; có khi người ta ngâm nước nóng ít phút rồi mới thái cho dễ hơn. Có nơi lại để nguyên củ phơi khô.

    Thổ Phục Linh

    Thành phần hóa học: Lá và ngọn non chứa theo tỷ lệ g%: nước 83,3; protein 2,4; glucid 8,9; xơ 2,2; tro 1,2 và theo mg%: caroten 1,6; vitamin C 18. Trong thân rễ có nhiều tinh bột và có (-sitosterol, stigmasterol, smilax saponin, tigogenin.

    Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, hơi chát, tính bình; có tác dụng khư phong giải độc, tiêu thũng, tán kết, lợi gân cốt, kiện tỳ vị.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng Thổ Phục Linh chữa: Tiêu hoá không bình thường, đau bụng ỉa chảy; Viêm thận, viêm bàng quang; Phong thấp, viêm khớp, đòn ngã tổn thương; Tràng nhạc, mụn nhọt độc, lở ngứa, viêm mủ da, giang mai; Giải độc thuỷ ngân và bạc. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc, cao nước hay hoàn tán. Không dùng nước trà để uống thuốc.

    Ở Ấn Độ, nước sắc rễ tươi dùng trị đau bệnh hoa liễu và các vết loét.

    Thổ phục linh (danh pháp khoa học: Smilax glabra) còn được gọi là dây khum, hồng thổ linh, sơn trư phấn, sơn kỳ lương, linh phạn đoàn là một loài cây leo, thân mềm, không gai thuộc họ Smilacaceae. Lá hình trứng, gốc lá hơi hình tim, mọc so le, có cuống dài, mang tua cuốn. Cụm hoa hình táng, mọc ở kẽ lá, có cuống dài. Hoa màu hồng hoặc điểm chấm đỏ gồm hoa đực và hoa cái riêng biệt. Quả hình tròn, đường kính 8 đến 10mm, khi chín thường có màu đen, quả có 2 đến 4 hạt hình trứng.

    Thổ Phục Linh (Rhizoma Smilacis) là thân rễ phơi hay sấy khô của nhiều cây thuộc chi Smalax, trong đó có cây Smilax Glabra

    Đơn thuốc:

    1. Viêm mủ da: Thổ phục linh 30g, Kim ngân 15g, Cam thảo 15g sắc uống.

    2. Phong thấp, gân xương đau nhức, tê buốt: Thổ phục linh 20g. Thiên niên kiện, Ðương quy đều 8g, Bạch chỉ 6g, Cốt toái bổ 10g, sắc uống.

    3. Giang mai: Thổ phục linh 40g, Hà thủ ô 16g, vỏ Núc nác 16g, gai Bồ kết đốt tồn tính 8g, Ké đầu ngựa 12g sắc uống.

    4. Phong thấp khớp: Hà thủ ô đỏ 8g, Sâm bố chính 8g, Thổ phục linh 8g, Ðỗ trọng 6g, Cỏ xước 6g, Tang ký sinh 8g, Vòi voi 8g, Cây lá lốt 6g, Mắc cỡ gai 6g, Dây đau xương 6g, sắc uống hoặc tán bột, luyện viên. (Kinh nghiệm của Lương y Ðỗ Văn Trạnh ở Long Xuyên).

    5. Trị bệnh Leptospira: Mỗi ngày dùng Thổ phục linh 60g, Cam thảo 9g, sắc uống. Trường hợp nặng và cơ thể khỏe có thể dùng tới 150g gia thêm Hoàng cầm, Nhân trần, Phòng kỷ, Trạch tả trị 80 ca đều khỏi ( Thiểm tây Tân y dược 1972,4:53).

    6. Trị bệnh vẩy nến (psoriasis): Hạ khô thảo nam ( cây cải trời) 80 - 120g, Thổ phục linh 40 - 80g, đổ 500ml nước sắc còn 300ml chia 3 - 4 lần uống trong ngày> Có phối hợp với một số thuốc tây bôi ngoài như: mỡ salixilic 5%, acid crisophanic 5%, dầu Cadơ 10%, mỡ Sabouraud, điều trị 21 người khỏi hẳn (Báo cáo của khoa Da liễu Viện Quân y 108, năm 1961).