ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Cây Sâm Bố Chính, thành phần hóa học, công dụng và cách dùng CỦ SÂM BỐ CHÍNH

Sâm bố chính (danh pháp hai phần: Abelmoschus sagittifolius) là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ. Loài này được (Kurz) Merr. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1924. Theo Đông y, sâm bố chính vị ngọt nhạt, tính bình, vào kinh phế tỳ. Có tác dụng bổ mát, nhuận phế, dưỡng tâm, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá, thêm mạnh sức. Trị ho, sốt nóng phổi yếu, táo, khát nước, người gầy còm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, bạch đới khí hư. Dùng ngoài lấy lá và hoa xát chữa ghẻ ngứa.

Sâm bố chính (danh pháp hai phần: Abelmoschus sagittifolius) là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ. Loài này được (Kurz) Merr. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1924

Cây Sâm Bố Chính - Abelmoschus Sagittifolius

Tên khác: Bố chính sâm, Thổ hào sâm

Tên khoa học: Abelmoschus Sagittifolius (Kurz) Merr. (Hibiscus sagittifolius Kurz)

Mô tả cây sâm bố chính: Sâm bố chính là loại cây thân thảo sống dai, mọc đứng một cách yếu ớt, có khi dựa vào các cây xung quanh, cao chừng 1 m hay hơn. Rễ mẫm màu trắng nhạt hoặc vàng nhạt, có đường kính 1,5 – 2cm, nhiều rễ có hình người trông rất giống nhân sâm.

Lá ở phía gốc cây hình trái xoan, phần cuối phiến lá hình tim hay hình mũi tên, đầu phiến lá không nhọn. Các lá ở phía ngọn càng lên trên càng hẹp. Mặt lá có lông đơn hay hình sao.

Hoa màu hồng hay đỏ, phớt vàng, mọc đơn độc ở kẽ lá, đường kính tới 8cm. Cuống hoa dài 5 – 8cm, có lông cứng, hơi phồng đầu. Tiểu đài cấu tạo bởi 7 – 10 bộ phận, dài 12 – 14mm, có lông tua tủa, đài hoa hình túi, ở ngọn có vài răng nhỏ, đài rách ra và rụng sớm, 5 cánh hoa dài 5-6cm, rộng 3-4cm ở ngọn. Nhiều nhị hàn liền với nhau thành một cột. Bao phấn phủ cột đỏ đến tận gốc. Bầu có lông, 5 vòi, có tuyến.

Quả hình trứng nhọn, dài gấp 3 lần tiểu đài, ngoài mặt có lông, khi chín, quả nứt thành 5 mảnh vỏ, mặt trong và mặt ngoài đều có lông. Hạt hình thận, màu nâu, ngoài mặt có những đường vân rất sít nhau thành những gợn hay những ụ màu vàng.

hoa sâm bố chính

Bộ phận dùng : Rễ. Thu hái vào mùa đông. Rửa sạch, ngâm nước gạo một đêm, đồ chín. Phơi khô.

Thành phần hóa học : Rễ sâm bố chính chứa chất nhầy 35 - 40%, tinh bột (Đỗ Tất Lợi, 1999). Theo Trần Công Luận và cs, 2001, rễ cây sâm Bố Chính trồng ở Bạc Liêu chứa phytosterol, coumarin, acid béo, acid hữu cơ, đường khử và hợp chất uronic. Hàm lượng lipid là 3,96%. lipid gồm acid myrisric, acid palmitic, acid stearic, acid oleic, acid linoleic, acid linolenic. Hàm lượng protein toàn phần là 0,23g %, hàm lượng protid là 1,26g %. Các acid amin gồm 11 chất, trong đó có histidin, arginin, threonin, alanin,prolin, tyrosin, valin, phenylalanin và leucin. Hàm lượng tinh bột là 15,14% và chất nhầy là 18,92%. Chất nhầy là D-glucose và L-rhamnose. Ngoài ra, còn có 13 nguyên tố : Na, Ca, Mg, Al, So Fe, V, Mn, Ti, Mo, Cu, Zr và P. Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, rễ sâm Bố Chính phải chứa 30 - 40% chất nhầy (tính theo dược liệu khô kiệt).

Phân bố: Sâm bố chính  mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi ở Việt Nam. Miền Bắc có nhiều nhất ở các vùng núi huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Hương Sơn (Nghệ An, Hà Tỉnh). Một vài địa phương thuộc Quảng Bình, Hòa Bình và Tây Bắc.

Thu hái và chế biến: Thu hái rễ vào mùa thu đông, ngâm nước vo gạo, đồ chín rồi phơi khô. Đào rễ cẩn thận để khỏi thương tổn rễ. Sau đó cắt bỏ thân và đầu rễ. Có khi cắt bỏ cả rễ chính nếu xơ quá.

- Có nơi đào rễ về, cắt bỏ thân ở trên, cạo sạch vỏ ngoài, ngâm nước vo gạo 1 đêm, vớt ra để khô nước đổ cho chín rồi phơi nắng hoặc sấy cho thật khô.

- Có nơi đào rễ về, cắt bỏ thân cạo sạch vỏ ngoài, ngày phơi đêm sấy cho thật khô.

- Cũng có nơi đào rễ về, cắt bỏ thân và rễ con, rửa sạch ngâm vào nước phèn chua hai ngày hai đêm (cứ 10 kg rễ dùng 300g phèn chua tán nhỏ, hòa tan vào nước lã). Rửa sạch phơi nắng hay sấy khô.

- Có người cầu kỳ lại ngâm thêm nước gừng, gấc và đường cho thêm màu đỏ, vị cay và vị ngọt nhưng không cần thiết.

Tất cả công việc trên phải tiến hành nhanh, nhất là thời gian chế biến không nên kéo dài để tránh các đốm đen do mốc, làm giảm giá trị của thuốc.
Khi sấy không nên để nhiệt độ cao quá 400C.

Củ sâm bố chính

Củ Sâm Bố Chính

 

Công dụng chữa bệnh: Sâm bố chính có vị ngọt nhạt, có chất nhầy, tính bình; có tác dụng bổ mát, nhuận phế, dưỡng tâm, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá, thêm mạnh sức. Ở Trung Quốc, người ta xem rễ, lá như có tác dụng tư âm thanh nhiệt, bài nung bạt độc.Bổ khí, ích huyết, sinh tân dịch, chỉ khát, chỉ ho, trừ đờm. Chủ trị: Cơ thể suy nhược, hư lao, kém ăn, kém ngủ, thần kinh suy nhược, hoa mắt, chóng mặt, đau dạ dày, tiêu chảy, ho, viêm họng, viêm phế quản.

Trước đây, Hải Thượng Lãn ông dùng rễ Sâm bố chính phối hợp với các thuốc khác để chữa bệnh ho, sốt nóng, gầy mòn.

Hiện nay, nhiều người dùng nó làm thuốc bổ, thông tiểu tiện, điều kinh, chữa được bệnh sốt, bệnh phổi và bạch đới. Dùng ngoài lấy lá và hoa xát chữa ghẻ ngứa.

Ở Trung Quốc, rễ và lá dùng chữa lao phổi, ho do phổi khô, sản hậu tiện bí, thần kinh suy nhược, mụn nhọt sưng lở. Ngày dùng 6-12g sắc uống, ngâm rượu hoặc tán bột uống.Rễ sâm Bố Chính chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, mất ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng ho sốt nóng, trong người khô, táo bón, khát nước, gầy còm. Có khi được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi và bạch đới.

Củ sâm bố chính

Củ sâm bố chính chưa được làm sạch

Đơn thuốc có dùng Sâm Bố Chính:

1. Bổ khí huyết: Sâm bố chính 30g, Hồi dầu 12g, Hoài sơn, Đương quy, Ý dĩ sao, đều 15g, sấy khô, tán bột làm viên với mật ong hay mạch nha, uống mỗi ngày 15-20g.

2. Người suy nhược gầy yếu, khô khát, táo bón, đái són: Sâm bố chính nấu thành cao, hoà với sữa người hay cao ban long uống.

3. Bạch đới: Rễ Sâm bố chính giã nhỏ và nấu với Gạo nếp ăn.

Kiêng kỵ: Thể trạng hư hàn phải tẩm nước gừng, sao kỹ.

Cách ngâm rượu sâm bố chính theo dân gian: Bình ngâm rượu, Bình thủy tinh không vòi nhựa, không chì, bình gốm đất nung Việt Nam là tốt nhất kích thước bình tùy vào số lượng bạn muống ngâm.

Nguyên liệu sâm: Sâm tươi đã làm sạch, rửa lại bằng rượu trước khi cho vào bình.

Rượu: Rượu nấu gạo tẻ hoặc rượu nếp cổ truyền nhiệt độ tốt nhất là 30 -35 độ

Thời hạn sử dụng: thông thường thì sau 3 tháng là ngon nhất

Chú ý: Rượu tốt nhất đã được khủ độc bằng bình gốm đất nung trước khi ngâm sâm. Ngâm kèm thân và lá rượu sẽ ngon hơn

Lưu ý: Sâm bố chính được trồng trong thùng xốp, trong chậu cây cảnh, bì cát thường là thiếu chất, hoặc người trồng chăm sóc bằng Lân Đạm không tốt khi sử dụng


Kiến thức hay


Những bài thuốc nam chữa bệnh


Các bệnh ung thư


Kiến thức trẻ em


Các loại bệnh thường gặp



Tin mới đăng

DANH MỤC CÂY THUỐC

Bạn cần biết

Cây Sâm Bố Chính, thành phần hóa học, công dụng và cách dùng CỦ SÂM BỐ CHÍNH

Sâm bố chính (danh pháp hai phần: Abelmoschus sagittifolius) là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ. Loài này được (Kurz) Merr. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1924. Theo Đông y, sâm bố chính vị ngọt nhạt, tính bình, vào kinh phế tỳ. Có tác dụng bổ mát, nhuận phế, dưỡng tâm, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá, thêm mạnh sức. Trị ho, sốt nóng phổi yếu, táo, khát nước, người gầy còm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, bạch đới khí hư. Dùng ngoài lấy lá và hoa xát chữa ghẻ ngứa.

Sâm bố chính (danh pháp hai phần: Abelmoschus sagittifolius) là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ. Loài này được (Kurz) Merr. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1924

Cây Sâm Bố Chính - Abelmoschus Sagittifolius

Tên khác: Bố chính sâm, Thổ hào sâm

Tên khoa học: Abelmoschus Sagittifolius (Kurz) Merr. (Hibiscus sagittifolius Kurz)

Mô tả cây sâm bố chính: Sâm bố chính là loại cây thân thảo sống dai, mọc đứng một cách yếu ớt, có khi dựa vào các cây xung quanh, cao chừng 1 m hay hơn. Rễ mẫm màu trắng nhạt hoặc vàng nhạt, có đường kính 1,5 – 2cm, nhiều rễ có hình người trông rất giống nhân sâm.

Lá ở phía gốc cây hình trái xoan, phần cuối phiến lá hình tim hay hình mũi tên, đầu phiến lá không nhọn. Các lá ở phía ngọn càng lên trên càng hẹp. Mặt lá có lông đơn hay hình sao.

Hoa màu hồng hay đỏ, phớt vàng, mọc đơn độc ở kẽ lá, đường kính tới 8cm. Cuống hoa dài 5 – 8cm, có lông cứng, hơi phồng đầu. Tiểu đài cấu tạo bởi 7 – 10 bộ phận, dài 12 – 14mm, có lông tua tủa, đài hoa hình túi, ở ngọn có vài răng nhỏ, đài rách ra và rụng sớm, 5 cánh hoa dài 5-6cm, rộng 3-4cm ở ngọn. Nhiều nhị hàn liền với nhau thành một cột. Bao phấn phủ cột đỏ đến tận gốc. Bầu có lông, 5 vòi, có tuyến.

Quả hình trứng nhọn, dài gấp 3 lần tiểu đài, ngoài mặt có lông, khi chín, quả nứt thành 5 mảnh vỏ, mặt trong và mặt ngoài đều có lông. Hạt hình thận, màu nâu, ngoài mặt có những đường vân rất sít nhau thành những gợn hay những ụ màu vàng.

hoa sâm bố chính

Bộ phận dùng : Rễ. Thu hái vào mùa đông. Rửa sạch, ngâm nước gạo một đêm, đồ chín. Phơi khô.

Thành phần hóa học : Rễ sâm bố chính chứa chất nhầy 35 - 40%, tinh bột (Đỗ Tất Lợi, 1999). Theo Trần Công Luận và cs, 2001, rễ cây sâm Bố Chính trồng ở Bạc Liêu chứa phytosterol, coumarin, acid béo, acid hữu cơ, đường khử và hợp chất uronic. Hàm lượng lipid là 3,96%. lipid gồm acid myrisric, acid palmitic, acid stearic, acid oleic, acid linoleic, acid linolenic. Hàm lượng protein toàn phần là 0,23g %, hàm lượng protid là 1,26g %. Các acid amin gồm 11 chất, trong đó có histidin, arginin, threonin, alanin,prolin, tyrosin, valin, phenylalanin và leucin. Hàm lượng tinh bột là 15,14% và chất nhầy là 18,92%. Chất nhầy là D-glucose và L-rhamnose. Ngoài ra, còn có 13 nguyên tố : Na, Ca, Mg, Al, So Fe, V, Mn, Ti, Mo, Cu, Zr và P. Theo quy định của Dược điển Việt Nam II, rễ sâm Bố Chính phải chứa 30 - 40% chất nhầy (tính theo dược liệu khô kiệt).

Phân bố: Sâm bố chính  mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi ở Việt Nam. Miền Bắc có nhiều nhất ở các vùng núi huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Hương Sơn (Nghệ An, Hà Tỉnh). Một vài địa phương thuộc Quảng Bình, Hòa Bình và Tây Bắc.

Thu hái và chế biến: Thu hái rễ vào mùa thu đông, ngâm nước vo gạo, đồ chín rồi phơi khô. Đào rễ cẩn thận để khỏi thương tổn rễ. Sau đó cắt bỏ thân và đầu rễ. Có khi cắt bỏ cả rễ chính nếu xơ quá.

- Có nơi đào rễ về, cắt bỏ thân ở trên, cạo sạch vỏ ngoài, ngâm nước vo gạo 1 đêm, vớt ra để khô nước đổ cho chín rồi phơi nắng hoặc sấy cho thật khô.

- Có nơi đào rễ về, cắt bỏ thân cạo sạch vỏ ngoài, ngày phơi đêm sấy cho thật khô.

- Cũng có nơi đào rễ về, cắt bỏ thân và rễ con, rửa sạch ngâm vào nước phèn chua hai ngày hai đêm (cứ 10 kg rễ dùng 300g phèn chua tán nhỏ, hòa tan vào nước lã). Rửa sạch phơi nắng hay sấy khô.

- Có người cầu kỳ lại ngâm thêm nước gừng, gấc và đường cho thêm màu đỏ, vị cay và vị ngọt nhưng không cần thiết.

Tất cả công việc trên phải tiến hành nhanh, nhất là thời gian chế biến không nên kéo dài để tránh các đốm đen do mốc, làm giảm giá trị của thuốc.
Khi sấy không nên để nhiệt độ cao quá 400C.

Củ sâm bố chính

Củ Sâm Bố Chính

 

Công dụng chữa bệnh: Sâm bố chính có vị ngọt nhạt, có chất nhầy, tính bình; có tác dụng bổ mát, nhuận phế, dưỡng tâm, sinh tân dịch; sao với gạo thì tính ấm bổ tỳ vị, giúp tiêu hoá, thêm mạnh sức. Ở Trung Quốc, người ta xem rễ, lá như có tác dụng tư âm thanh nhiệt, bài nung bạt độc.Bổ khí, ích huyết, sinh tân dịch, chỉ khát, chỉ ho, trừ đờm. Chủ trị: Cơ thể suy nhược, hư lao, kém ăn, kém ngủ, thần kinh suy nhược, hoa mắt, chóng mặt, đau dạ dày, tiêu chảy, ho, viêm họng, viêm phế quản.

Trước đây, Hải Thượng Lãn ông dùng rễ Sâm bố chính phối hợp với các thuốc khác để chữa bệnh ho, sốt nóng, gầy mòn.

Hiện nay, nhiều người dùng nó làm thuốc bổ, thông tiểu tiện, điều kinh, chữa được bệnh sốt, bệnh phổi và bạch đới. Dùng ngoài lấy lá và hoa xát chữa ghẻ ngứa.

Ở Trung Quốc, rễ và lá dùng chữa lao phổi, ho do phổi khô, sản hậu tiện bí, thần kinh suy nhược, mụn nhọt sưng lở. Ngày dùng 6-12g sắc uống, ngâm rượu hoặc tán bột uống.Rễ sâm Bố Chính chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, mất ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng ho sốt nóng, trong người khô, táo bón, khát nước, gầy còm. Có khi được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi và bạch đới.

Củ sâm bố chính

Củ sâm bố chính chưa được làm sạch

Đơn thuốc có dùng Sâm Bố Chính:

1. Bổ khí huyết: Sâm bố chính 30g, Hồi dầu 12g, Hoài sơn, Đương quy, Ý dĩ sao, đều 15g, sấy khô, tán bột làm viên với mật ong hay mạch nha, uống mỗi ngày 15-20g.

2. Người suy nhược gầy yếu, khô khát, táo bón, đái són: Sâm bố chính nấu thành cao, hoà với sữa người hay cao ban long uống.

3. Bạch đới: Rễ Sâm bố chính giã nhỏ và nấu với Gạo nếp ăn.

Kiêng kỵ: Thể trạng hư hàn phải tẩm nước gừng, sao kỹ.

Cách ngâm rượu sâm bố chính theo dân gian: Bình ngâm rượu, Bình thủy tinh không vòi nhựa, không chì, bình gốm đất nung Việt Nam là tốt nhất kích thước bình tùy vào số lượng bạn muống ngâm.

Nguyên liệu sâm: Sâm tươi đã làm sạch, rửa lại bằng rượu trước khi cho vào bình.

Rượu: Rượu nấu gạo tẻ hoặc rượu nếp cổ truyền nhiệt độ tốt nhất là 30 -35 độ

Thời hạn sử dụng: thông thường thì sau 3 tháng là ngon nhất

Chú ý: Rượu tốt nhất đã được khủ độc bằng bình gốm đất nung trước khi ngâm sâm. Ngâm kèm thân và lá rượu sẽ ngon hơn

Lưu ý: Sâm bố chính được trồng trong thùng xốp, trong chậu cây cảnh, bì cát thường là thiếu chất, hoặc người trồng chăm sóc bằng Lân Đạm không tốt khi sử dụng