ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt

Cây me rừng, Tên khoa học, Thành phần hoá học, tác dụng chữa bệnh của toàn cây Me Rừng

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham. Quả có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá có vị cay, tính bình; có tác dụng lợi tiểu. Rễ có vị đắng chát, tính bình có tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cũng có tác dụng thu liễm. Hoa làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Phyllanthus emblica (hay Emblica officinalis), tiếng Việt gọi là me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham.[3] Tiếng Làocũng gọi là mak kham trong khi danh từ aamla phổ biến ở Ấn Độ và Nê Pan (theo từ amalika tiếng Phạn), hay Dhatrik (trong tiếng Maithili). Đây là một loài thực vật có hoa với quả ăn được, trong họ Diệp hạ châu. Loài này được L. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753. Quả của cây này cũng được gọi là aamla ở Ấn Độ và Nê Pan.

Mô tả cây và thu hoạch

Cây Phyllanthus emblica tức me mận cao từ 8 đến 18 mét. Hoa màu xanh vàng. Trái me mận dánghình cầu, màu xanh vàng nhạt, vỏ nhẵn và cứng, trong ruột có 6 múi. Me mận chín vào mùa thu, khi thu hoạch phải trèo lên cây hái. Vị me mận chua, hơi đắng, và có nhiều xơ. Tại Ấn Độ, quả này thường được người dân ngâm muối, hoặc làm mứt. Me mận này cũng được dùng để duỗi tóc.

Bộ phận dùng: Quả, lá, vỏ cây và rễ - Fructus, Folium, Cortex et Radix Phyllanthi Emblicae.

Nơi sống và thu hái: Cây của phân vùng Ấn Ðộ, Malaixia, mọc hoang ở vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta, thường gặp ở chỗ sáng. Thu hái quả vào mùa thu đông, dùng tươi hay phơi khô để dành. Thu hái lá vào hè thu, rễ và vỏ quanh năm, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học: Quả chứa acid phyllemblic (6,3%), lipid (6%) acid gallic (5%) và emblicol. Quả Me rừng là nguồn nguyên liệu tự nhiên của vitamin C, trong vỏ quả có tỉ lệ 70-72%. Còn có acid mucic. Quả khô chứa tanin và phức hợp keo mà thành phần chính là acid phyllemblic. Hạt chứa dầu cố định, phosphatid và tinh dầu. Vỏ cũng chứa tanin, leucodelphinidin. Lá cũng chứa tanin.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Tính vị, tác dụng: Quả có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá có vị cay, tính bình; có tác dụng lợi tiểu. Rễ có vị đắng chát, tính bình có tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cũng có tác dụng thu liễm. Hoa làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả được dùng chữa: Cảm mạo phát sốt; Ðau họng, đau răng, miệng khô phiền khát;  Ðái đường; Thiếu vitamin C.

Rễ dùng chữa: Huyết áp cao; Ðau thượng vị, viêm ruột; Lao hạch bạch huyết.

Lá dùng chữa: Phù thũng; Eczema, viêm da, mẩn ngứa.

Dùng 10-30g quả; 15-30g rễ, vỏ; 10-20g lá, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài lấy lượng lá thích hợp nấu sôi tắm rửa.

Ở Ấn Ðộ, người ta dùng quả khô để trị xuất huyết, ỉa chảy và lỵ, dùng phối hợp với sắt để trị thiếu máu, vàng da và chứng khó tiêu. Nước lên men từ quả Me rừng dùng trị vàng da, khó tiêu và ho. Bột nước quả Me rừng với dịch Chanh được dùng làm ngưng lỵ trực khuẩn cấp tính. Dịch ứa ra khi chích quả, dùng đắp ngoài, chữa viêm mắt. Hạt được dùng trị hen, viêm cuống phổi và thiểu năng mật. Ở Thái Lan, quả cũng được dùng làm thuốc long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu, trị ỉa chảy, chống bệnh scorbut.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Đơn thuốc:

1. Ðái đường: Nấu sôi 15-20g quả Me rừng ướp muối và uống hàng ngày.

2. Rắn cắn: Vỏ cây giã thêm nước uống và lấy bã đắp.

3. Nước ăn chân: Giã quả lấy nước bôi.

Nghiên cứu y khoa

Nghiên cứu sơ bộ cho thấy me mận có tính kháng khuẩn

Lá, vỏ và quả của cây này có tiềm năng chống lại các bệnh như bỏng, ung thư, lão hóa, và tiểu đường.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Quả me rừng có nên ngâm rượu không

Theo Đông y quả me rừng có vị chua, ngọt, đắng, tính mát có tác dụng thu liễm giáng áp. Thường dùng chữa cảm mạo phát sốt, ho, đau cổ họng, miệng khô khát. Mỗi ngày dùng 10-30 quả sắc uống... Hoặc quả me rừng ướp muối, rồi phơi khô làm ô mai ngậm chữa ho, viêm họng, nôn mửa; Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 - 20g, ướp với muối ăn hoặc nấu nước uống hằng ngày; Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn; Chữa phù thũng: Quả me rừng 10 - 30g. Cũng có thể cho râu ngô, mã đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Phyllanthus emblica

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Theo sách “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi, thì quả me rừng được dùng làm thuốc chữa một số bệnh dưới dạng sắc nước uống hoặc dưới dạng ô mai. Trong một số tài liệu mới đây thì có nói đến quả me rừng ngâm đường hoặc mật ong làm sirô để giải khát, thanh nhiệt... Tuy nhiên đều không thấy nói đến quả me rừng ngâm rượu, do vậy bạn hỏi về công dụng của rượu me rừng thì cũng chưa thấy tài liệu nào công bố. Hy vọng trong thời gian tới quả me rừng sẽ được nghiên cứu rõ hơn... Lời khuyên của tôi là bạn có thể ngâm với đường làm sirô hoặc làm ô mai hay sắc uống để trị một số bệnh như đã nói trên.
 


Kiến thức hay


Các bệnh ung thư


Kiến thức trẻ em


Các loại bệnh thường gặp



Tin mới đăng

Xem nhiều nhất

Bạn cần biết

Cây me rừng, Tên khoa học, Thành phần hoá học, tác dụng chữa bệnh của toàn cây Me Rừng

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham. Quả có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá có vị cay, tính bình; có tác dụng lợi tiểu. Rễ có vị đắng chát, tính bình có tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cũng có tác dụng thu liễm. Hoa làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Phyllanthus emblica (hay Emblica officinalis), tiếng Việt gọi là me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham.[3] Tiếng Làocũng gọi là mak kham trong khi danh từ aamla phổ biến ở Ấn Độ và Nê Pan (theo từ amalika tiếng Phạn), hay Dhatrik (trong tiếng Maithili). Đây là một loài thực vật có hoa với quả ăn được, trong họ Diệp hạ châu. Loài này được L. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753. Quả của cây này cũng được gọi là aamla ở Ấn Độ và Nê Pan.

Mô tả cây và thu hoạch

Cây Phyllanthus emblica tức me mận cao từ 8 đến 18 mét. Hoa màu xanh vàng. Trái me mận dánghình cầu, màu xanh vàng nhạt, vỏ nhẵn và cứng, trong ruột có 6 múi. Me mận chín vào mùa thu, khi thu hoạch phải trèo lên cây hái. Vị me mận chua, hơi đắng, và có nhiều xơ. Tại Ấn Độ, quả này thường được người dân ngâm muối, hoặc làm mứt. Me mận này cũng được dùng để duỗi tóc.

Bộ phận dùng: Quả, lá, vỏ cây và rễ - Fructus, Folium, Cortex et Radix Phyllanthi Emblicae.

Nơi sống và thu hái: Cây của phân vùng Ấn Ðộ, Malaixia, mọc hoang ở vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta, thường gặp ở chỗ sáng. Thu hái quả vào mùa thu đông, dùng tươi hay phơi khô để dành. Thu hái lá vào hè thu, rễ và vỏ quanh năm, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Thành phần hóa học: Quả chứa acid phyllemblic (6,3%), lipid (6%) acid gallic (5%) và emblicol. Quả Me rừng là nguồn nguyên liệu tự nhiên của vitamin C, trong vỏ quả có tỉ lệ 70-72%. Còn có acid mucic. Quả khô chứa tanin và phức hợp keo mà thành phần chính là acid phyllemblic. Hạt chứa dầu cố định, phosphatid và tinh dầu. Vỏ cũng chứa tanin, leucodelphinidin. Lá cũng chứa tanin.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Tính vị, tác dụng: Quả có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hoà đàm, sinh tân chỉ khát. Ở Ấn Ðộ người ta cũng dùng làm thuốc làm mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Lá có vị cay, tính bình; có tác dụng lợi tiểu. Rễ có vị đắng chát, tính bình có tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cũng có tác dụng thu liễm. Hoa làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Quả được dùng chữa: Cảm mạo phát sốt; Ðau họng, đau răng, miệng khô phiền khát;  Ðái đường; Thiếu vitamin C.

Rễ dùng chữa: Huyết áp cao; Ðau thượng vị, viêm ruột; Lao hạch bạch huyết.

Lá dùng chữa: Phù thũng; Eczema, viêm da, mẩn ngứa.

Dùng 10-30g quả; 15-30g rễ, vỏ; 10-20g lá, dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài lấy lượng lá thích hợp nấu sôi tắm rửa.

Ở Ấn Ðộ, người ta dùng quả khô để trị xuất huyết, ỉa chảy và lỵ, dùng phối hợp với sắt để trị thiếu máu, vàng da và chứng khó tiêu. Nước lên men từ quả Me rừng dùng trị vàng da, khó tiêu và ho. Bột nước quả Me rừng với dịch Chanh được dùng làm ngưng lỵ trực khuẩn cấp tính. Dịch ứa ra khi chích quả, dùng đắp ngoài, chữa viêm mắt. Hạt được dùng trị hen, viêm cuống phổi và thiểu năng mật. Ở Thái Lan, quả cũng được dùng làm thuốc long đờm, hạ nhiệt, lợi tiểu, trị ỉa chảy, chống bệnh scorbut.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Đơn thuốc:

1. Ðái đường: Nấu sôi 15-20g quả Me rừng ướp muối và uống hàng ngày.

2. Rắn cắn: Vỏ cây giã thêm nước uống và lấy bã đắp.

3. Nước ăn chân: Giã quả lấy nước bôi.

Nghiên cứu y khoa

Nghiên cứu sơ bộ cho thấy me mận có tính kháng khuẩn

Lá, vỏ và quả của cây này có tiềm năng chống lại các bệnh như bỏng, ung thư, lão hóa, và tiểu đường.

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Me rừng còn gọi là chùm ruột núi, mận rừng, dư cam tử, Mác kham (Tày), Diều cam (Dao), Xì la liên (Kơ ho), tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang, xuất hiện nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta…

Quả me rừng có nên ngâm rượu không

Theo Đông y quả me rừng có vị chua, ngọt, đắng, tính mát có tác dụng thu liễm giáng áp. Thường dùng chữa cảm mạo phát sốt, ho, đau cổ họng, miệng khô khát. Mỗi ngày dùng 10-30 quả sắc uống... Hoặc quả me rừng ướp muối, rồi phơi khô làm ô mai ngậm chữa ho, viêm họng, nôn mửa; Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 - 20g, ướp với muối ăn hoặc nấu nước uống hằng ngày; Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn; Chữa phù thũng: Quả me rừng 10 - 30g. Cũng có thể cho râu ngô, mã đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Phyllanthus emblica

Me rừng, me mận, chùm ruột núi hoặc là mắc kham, Lạng Sơn - Phyllanthus emblica

Theo sách “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi, thì quả me rừng được dùng làm thuốc chữa một số bệnh dưới dạng sắc nước uống hoặc dưới dạng ô mai. Trong một số tài liệu mới đây thì có nói đến quả me rừng ngâm đường hoặc mật ong làm sirô để giải khát, thanh nhiệt... Tuy nhiên đều không thấy nói đến quả me rừng ngâm rượu, do vậy bạn hỏi về công dụng của rượu me rừng thì cũng chưa thấy tài liệu nào công bố. Hy vọng trong thời gian tới quả me rừng sẽ được nghiên cứu rõ hơn... Lời khuyên của tôi là bạn có thể ngâm với đường làm sirô hoặc làm ô mai hay sắc uống để trị một số bệnh như đã nói trên.