ĐÔNG TÂY Y KẾT HỢP

Vì sức khỏe người Việt


  • Cách chữa sỏi thận bằng lá giang theo phương pháp dân gian


    Ngoài việc sử dụng làm gia vị cho các món ăn hàng ngày, lá giang còn có công dụng điều trị bệnh sỏi thận rất hiệu quả mà ít người ngờ tới.

    lá giang

    Lá giang hay dân gian còn gọi là lá vang (tên khoa học là Ecdysanthera rosea) thuộc họ trúc đào, mọc hoang ở vùng đồi núi, bìa rừng, theo Đông ý lá có vị chua, tính bình, không độc, có tính năng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, kháng viêm diệt khuẩn, giảm đau… Đặc biệt, ngoài việc sử dụng làm gia vị cho các món ăn hàng ngày lá giang còn có công dụng điều trị bệnh sỏi thận rất hiệu quả.

    Các nghiên cứu, thử nghiệm về tác dụng làm tan sỏi thận của lá giang cũng cho kết quả quan giúp khẳng định loại lá này có tác dụng làm giảm các cơn đau, triệu chứng bệnh sỏi thận và đặc biệt những người bệnh thử nghiệm theo cách này cũng nhận thấy sỏi thận đã được đào thải ra ngoài qua đường nước tiểu.

    Ở Việt Nam, cây lá giang mọc ở nhiều nơi thuộc các tỉnh miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt ở Nam Bộ, cây lá giang thường mọc hoang ven sông rạch, trong vườn cây. Hiện nay, cây lá giang được trồng làm nguồn rau sạch đặc sản ở một số hộ nông dân. Người dân Nam Bộ hay dùng lá giang nấu canh chua, chế biến nhiều món ăn bổ dưỡng như xào với thịt gà, cá nước ngọt, thịt bò.... 

    Cách điều trị bệnh sỏi thận bằng lá giang

    Lá giang không có độc tính, có tác dụng ức chế 9 loại vi khuẩn có nhiều saponin, flavonoid, sterol, coumarin, tamin, chất béo, axit hữu cơ và 12 nguyên tố vi lượng có tác dụng chữa viêm đường tiết niệu, có sỏi, viêm thận mạn tính… 

    Để chữa bệnh sỏi thận, người bệnh cần lấy lá giang tươi sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày và kiên trì sử dụng thuốc liên tục trong nhiều ngày sẽ có hiệu quả trị bệnh cao và an toàn.

    Chữa sỏi và viêm đường tiết niệu: 10g thân lá giang thái mỏng, phơi khô, đổ ngập nước, đun nhỏ lửa 1 tiếng, chắt lấy nước, sắc tiếp 2 lần nữa, sau đó lấy 3 nước nhập lại sắc tiếp còn 200ml. Uống mỗi lần 100ml, ngày 2 lần sáng chiều liên tiếp 2 – 3 tuần.

    Một số công dụng khác của lá giang

    Chữa ăn không tiêu, bụng trướng đầy: Lá giang 30-50 g, sắc uống. Đơn thuốc này uống liên tục chữa được sỏi và viêm đường tiết niệu.

    Chữa đau nhức xương khớp, đau dạ dày: Rễ hoặc lá 20-40 g, sắc uống, thường kết hợp với một số vị thuốc trị đau khác.

    Chữa mụn nhọt, lở ngứa ngoài da, vết thương: Lá tươi rửa sạch, giã nát, đắp lên vết thương.

    Cá chuồn nấu lá giang (công dụng bổ hư tổn, khu phong trừ thấp, cường kiện cân cốt; phòng chữa viêm đường tiết niệu với các triệu chứng đái dắt, đái buốt): Cá chuồn 3-5 con, lá giang 100 g. Cá chuồn bỏ vảy, chặt vây, cắt làm 2-3 khúc; lá giang rửa sạch, vò giập. Nước đun sôi, cho cá vào, sau đó cho lá giang và bột canh (muối, bột ngọt), có thể thêm nắm gạo làm tăng phần đậm đặc của nồi canh. Khi bắc ra, cho thêm trái ớt đập giập.

    Chữa viêm bàng quang bằng canh gà lá giang (công dụng thanh nhiệt giải độc dùng cho các trường hợp lao thương khí huyết, phong hàn thấp tí; sản hậu băng huyết, huyết trắng, hội chứng lỵ xuất huyết, trĩ xuất huyết, suy nhược cơ thể): Gà 600 g, lá giang 100 g, gia vị vừa đủ. Gà rửa sạch, để ráo chặt miếng; lá giang bánh tẻ rửa sạch. Cho thịt gà cùng 1 lít nước, đun sôi, vớt bọt, thêm mắm và gia vị vừa ăn. Khi thịt gà chín mềm, cho lá giang đã vò nát vào, đun sôi; trước khi bắc ra thêm ít rau thơm vừa ăn.

    Theo Gia đình Việt Nam

    cây lá giang

    Dây cao su hồng

    Dây cao su hồng, Dây răng bừa hồng - Ecdysanthera rosea Hook. et Arn., thuộc họ Trúc đào -Apocynaceae.

    Mô tả: Bụi leo quấn, dài 5-6m; thân to đến 12cm, nhựa mủ trắng. Lá có phiến không lông, dài 5-8cm, gân phụ 4-5 cặp, cuống dài 1-1,5cm. Hoa nhỏ, màu phớt hồng, mọc thành chuỳ dài 10-15mm, gồm nhiều xim tam phân, đài xoan nhọn, ống tràng 2mm, thuỳ tràng 1,5mm, nhị 5, đĩa mật hình nhẵn, bầu 2 lá noãn rời. Quả đại 2, choãi thẳng ra, đen, dài 8-12cm; hạt dài 1,2cm, lông mào mau rụng.

    Hoa tháng 4-7, quả tháng 8-12.

    Bộ phận dùng: Rễ và lá - Radix et Folium Ecdysantherae.

    Nơi sống và thu hái: Cây mọc ở chỗ ấm và nắng trong rừng thưa trên các đồi cây bụi, dọc theo các sông và suối ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình... tới Lâm Đồng. Thu hái rễ, lá quanh năm, rễ rửa sạch, thái phiến, phơi khô.

    Tính vị, tác dụng: Có tác dụng giải nhiệt, tiêu thũng, sinh tân dịch, giải khát.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá non ăn được, có vị chua. Ở Hải Nam (Trung Quốc) rễ và lá dùng trị dao chém thương tích, phong thấp nhức xương, mụn nhọt sưng đau, ăn không tiêu đầy trướng. Ở Vân Nam, người ta dùng lá trị chứng kinh phong của trẻ em.

    lá giang


    Sức khỏe đời sống


    Bài thuốc nam chữa bệnh


    Bệnh ung thư


    Cây thuốc Nam


    Bệnh thường gặp



    Tin mới đăng

    CÂY THUỐC VIỆT NAM

    Bạn cần biết


  • Cách chữa sỏi thận bằng lá giang theo phương pháp dân gian


    Ngoài việc sử dụng làm gia vị cho các món ăn hàng ngày, lá giang còn có công dụng điều trị bệnh sỏi thận rất hiệu quả mà ít người ngờ tới.

    lá giang

    Lá giang hay dân gian còn gọi là lá vang (tên khoa học là Ecdysanthera rosea) thuộc họ trúc đào, mọc hoang ở vùng đồi núi, bìa rừng, theo Đông ý lá có vị chua, tính bình, không độc, có tính năng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, kháng viêm diệt khuẩn, giảm đau… Đặc biệt, ngoài việc sử dụng làm gia vị cho các món ăn hàng ngày lá giang còn có công dụng điều trị bệnh sỏi thận rất hiệu quả.

    Các nghiên cứu, thử nghiệm về tác dụng làm tan sỏi thận của lá giang cũng cho kết quả quan giúp khẳng định loại lá này có tác dụng làm giảm các cơn đau, triệu chứng bệnh sỏi thận và đặc biệt những người bệnh thử nghiệm theo cách này cũng nhận thấy sỏi thận đã được đào thải ra ngoài qua đường nước tiểu.

    Ở Việt Nam, cây lá giang mọc ở nhiều nơi thuộc các tỉnh miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt ở Nam Bộ, cây lá giang thường mọc hoang ven sông rạch, trong vườn cây. Hiện nay, cây lá giang được trồng làm nguồn rau sạch đặc sản ở một số hộ nông dân. Người dân Nam Bộ hay dùng lá giang nấu canh chua, chế biến nhiều món ăn bổ dưỡng như xào với thịt gà, cá nước ngọt, thịt bò.... 

    Cách điều trị bệnh sỏi thận bằng lá giang

    Lá giang không có độc tính, có tác dụng ức chế 9 loại vi khuẩn có nhiều saponin, flavonoid, sterol, coumarin, tamin, chất béo, axit hữu cơ và 12 nguyên tố vi lượng có tác dụng chữa viêm đường tiết niệu, có sỏi, viêm thận mạn tính… 

    Để chữa bệnh sỏi thận, người bệnh cần lấy lá giang tươi sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày và kiên trì sử dụng thuốc liên tục trong nhiều ngày sẽ có hiệu quả trị bệnh cao và an toàn.

    Chữa sỏi và viêm đường tiết niệu: 10g thân lá giang thái mỏng, phơi khô, đổ ngập nước, đun nhỏ lửa 1 tiếng, chắt lấy nước, sắc tiếp 2 lần nữa, sau đó lấy 3 nước nhập lại sắc tiếp còn 200ml. Uống mỗi lần 100ml, ngày 2 lần sáng chiều liên tiếp 2 – 3 tuần.

    Một số công dụng khác của lá giang

    Chữa ăn không tiêu, bụng trướng đầy: Lá giang 30-50 g, sắc uống. Đơn thuốc này uống liên tục chữa được sỏi và viêm đường tiết niệu.

    Chữa đau nhức xương khớp, đau dạ dày: Rễ hoặc lá 20-40 g, sắc uống, thường kết hợp với một số vị thuốc trị đau khác.

    Chữa mụn nhọt, lở ngứa ngoài da, vết thương: Lá tươi rửa sạch, giã nát, đắp lên vết thương.

    Cá chuồn nấu lá giang (công dụng bổ hư tổn, khu phong trừ thấp, cường kiện cân cốt; phòng chữa viêm đường tiết niệu với các triệu chứng đái dắt, đái buốt): Cá chuồn 3-5 con, lá giang 100 g. Cá chuồn bỏ vảy, chặt vây, cắt làm 2-3 khúc; lá giang rửa sạch, vò giập. Nước đun sôi, cho cá vào, sau đó cho lá giang và bột canh (muối, bột ngọt), có thể thêm nắm gạo làm tăng phần đậm đặc của nồi canh. Khi bắc ra, cho thêm trái ớt đập giập.

    Chữa viêm bàng quang bằng canh gà lá giang (công dụng thanh nhiệt giải độc dùng cho các trường hợp lao thương khí huyết, phong hàn thấp tí; sản hậu băng huyết, huyết trắng, hội chứng lỵ xuất huyết, trĩ xuất huyết, suy nhược cơ thể): Gà 600 g, lá giang 100 g, gia vị vừa đủ. Gà rửa sạch, để ráo chặt miếng; lá giang bánh tẻ rửa sạch. Cho thịt gà cùng 1 lít nước, đun sôi, vớt bọt, thêm mắm và gia vị vừa ăn. Khi thịt gà chín mềm, cho lá giang đã vò nát vào, đun sôi; trước khi bắc ra thêm ít rau thơm vừa ăn.

    Theo Gia đình Việt Nam

    cây lá giang

    Dây cao su hồng

    Dây cao su hồng, Dây răng bừa hồng - Ecdysanthera rosea Hook. et Arn., thuộc họ Trúc đào -Apocynaceae.

    Mô tả: Bụi leo quấn, dài 5-6m; thân to đến 12cm, nhựa mủ trắng. Lá có phiến không lông, dài 5-8cm, gân phụ 4-5 cặp, cuống dài 1-1,5cm. Hoa nhỏ, màu phớt hồng, mọc thành chuỳ dài 10-15mm, gồm nhiều xim tam phân, đài xoan nhọn, ống tràng 2mm, thuỳ tràng 1,5mm, nhị 5, đĩa mật hình nhẵn, bầu 2 lá noãn rời. Quả đại 2, choãi thẳng ra, đen, dài 8-12cm; hạt dài 1,2cm, lông mào mau rụng.

    Hoa tháng 4-7, quả tháng 8-12.

    Bộ phận dùng: Rễ và lá - Radix et Folium Ecdysantherae.

    Nơi sống và thu hái: Cây mọc ở chỗ ấm và nắng trong rừng thưa trên các đồi cây bụi, dọc theo các sông và suối ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình... tới Lâm Đồng. Thu hái rễ, lá quanh năm, rễ rửa sạch, thái phiến, phơi khô.

    Tính vị, tác dụng: Có tác dụng giải nhiệt, tiêu thũng, sinh tân dịch, giải khát.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá non ăn được, có vị chua. Ở Hải Nam (Trung Quốc) rễ và lá dùng trị dao chém thương tích, phong thấp nhức xương, mụn nhọt sưng đau, ăn không tiêu đầy trướng. Ở Vân Nam, người ta dùng lá trị chứng kinh phong của trẻ em.

    lá giang